phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm 3 chƣơng sau : Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng chất lƣợng nguồn nhân lực tại Công ty cổ phần Tu tạo và Phát triển nhà. Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực tại Công ty cổ phần Tu tạo và Phát triển nhà 8 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm cơ bản 1.
Nguồn nhân lực Trong các nguồn lực để phát triển bao gồm: tài nguyên thiên nhiên, vốn, khoa học-công nghệ và con ngƣời thì nguồn lực con ngƣời là quan trọng nhất, có tính chất quyết định trong sự tăng trƣởng và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của mọi quốc gia từ trƣớc đến nay. Hiện nay, có nhiều khái niệm về nguồn nhân lực, trong đó có c c kh i niệm đ ng chú ý nhƣ sau: Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì: “Nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những ngƣời trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động. Nguồn nhân lực đƣợc hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con ngƣời cho sự phát triển. Do đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cƣ có thể phát triển bình thƣờng.
Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế xã hội, bao gồm các nhóm dân cƣ trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào qu trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ đƣợc huy động vào quá trình lao động” Theo Nguyễn Tiệp: “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người, yếu tố quan trọng,năng động nhất của tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội” [22] Theo tác giả Trần Xuân Cầu: “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định” [3] 9 Trong phạm vi khuôn khổ luận văn, t c giả khái quát khái niệm nguồn nhân lực nhƣ sau: “Nguồn nhân lựclà toàn bộ các khả năng về thể lực và trí lực, phẩm chất của con người được vận dụng ra trong quá trình lao động sản xuất, đang và sẽ sẵn sàng tham gia vào sự phát triển kinh tế - xã hội”. Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Nguồn nhân lực của doanh nghiệp bao gồm các cá nhân có vai trò khác nhau và đƣợc liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định. Theo tác giả Trần Xuân Cầu thì nguồn nhân lực trong doanh nghiệp đƣợc hiểu là: “nguồn lực con người, là vốn nhân lực của doanh nghiệp bao gồm những người đang làm việc thực tế trong doanh nghiệp và nguồn nhân lực tiềm năng mà doanh nghiệp đang hướng tới trong kế hoạch hóa nguồn nhân lực” [3] Trong doanh nghiệp, NNL đƣợc hiểu là toàn bộ các khả năng về thể lực, trí lực và tâm lực của con ngƣời đƣợc vận dụng ra trong qu trình lao động sản xuất. Nguồn nhân lực doanh nghiệp là lực lƣợng lao động của toàn doanh nghiệp, là số ngƣời có trong danh sách của doanh nghiệp, do doanh nghiệp trả lƣơng.
Đối với nguồn nhân lực ở m i DN và trong m i ngành kinh tế cũng vậy đều có những cơ cấu chung nhất định, đó là cơ cấu về giới tính, về trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn kỹ thuật, hay là trình độ về ngành nghề, lĩnh vực. Trong phạm vi luận văn, nguồn nhân lực trong doanh nghiệp mà tác giả chú trọng đến đó là nguồn nhân lực trong một doanh nghiệp. Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp chỉ lực lƣợng ngƣời lao động trong doanh nghiệp với khả năng đ p ứng công việc trong quá trình sản xuất phát triển của doanh nghiệp. Chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Do xuất phát từ các cách tiếp cận kh c nhau, nên cho đến nay khái niệm về chất lƣợng nguồn nhân lực có nội hàm khá rộng.
Theo Tạ Ngọc Hải, Viện nghiên cứu Phát triển Giáo dục thì: “Chất lƣợng nhân lực là yếu tố tổng hợp của nhiều yếu tố bộ phận nhƣ: trí tuệ, sự hiểu biết, trình độ, đạo đức, kỹ năng, sức khỏe, thẩm mỹ…của ngƣời lao động. Trong các yếu tố trên thì yếu tố trí lực và thể lực là hai yếu tố quan trọng nhất để xem xét và đ nh gi chất lƣợng nguồn nhân lực. Theo tác giả Lê Thanh Hà: “Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành bên trong của Nguồn nhân lực” [12] Theo quan điểm của Vũ Huy Từ thì chất lƣợng nguồn nhân lực đƣợc định nghĩa: “Chất lượng nguồn nhân lực là tổng hòa của cả 3 yếu tố: Trí lực, thể lực và phẩm chất của người lao động” [25] Từ những quan điểm về chất lƣợng nguồn nhân lực trên, tác giả có thể khái quát chất lƣợng NNL nhƣ sau: “Chất lƣợng nguồn nhân lực là tổng thể các yếu cấu thành năng lực bao gồm: thể lực, trí lực và tâm lực (phẩm chất) của lực lƣợng lao động”. Trong đó: - Thể lực: Là trạng thái sức khỏe của ngƣời lao động, thể hiện ở sự phát triển sinh học, đủ sức khỏe để tham gia lao động, học tập và làm việc lâu dài.
- Trí lực: Là năng lực trí tuệ, là học vấn chuyên môn kỹ thuật, là kỹ năng nghiệp vụ tay nghề. Nó có tính chất quyết định lớn đến khả năng s ng tạo của ngƣời lao động. - Tâm lực (phẩm chất): Là sự phản ánh thể hiện tính cách, tâm lý, sự giác ngộ, ý thức, các giá trị văn hóa đƣợc kết tinh trong ngƣời lao động tạo nên 11 những giá trị cơ bản của nhân cách chất lƣợng lao động và biểu hiện ra ở ý thức lao động, th i độ lao động. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Chất lƣợng NNL là trạng thái nhất định thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của NNL.
Chất lƣợng nguồn nhân lực không chỉ phản ánh về trình độ phát triển kinh tế, mà còn phản nh đến trình độ phát triển của xã hội; bởi nếu chất lƣợng nguồn nhân lực cao sẽ tạo ra động lực mạnh mẽ hơn với tƣ c ch không chỉ là một nguồn lực của sự phát triển, mà còn thể hiện mức độ văn minh của một đất nƣớc, một xã hội nhất định. Thực chất của việc nâng cao chất lƣợng NNL là qu trình tăng về số lƣợng và nâng cao về mặt chất lƣợng của NNL, nhằm tạo ra quy mô và cơ cấu nguồn nhân lực ngày càng phù hợp với nhu cầu nhân lực phục vụ cho sự phát triển của các tổ chức, ban, ngành hay một quốc gia. Tổ chức, doanh nghiệp muốn phát triển tốt thì cần phải nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực. Đối với doanh nghiệp chất lƣợng nguồn nhân lực chính là chất lƣợng đội ngũ lao động trong doanh nghiệp.
Nâng cao chất lƣợng nhân lực trong doanh nghiệp là tạo ra tiềm năng của con ngƣời thông qua đào tạo, bồi dƣỡng, tự bồi dƣỡng và đào tạo lại, chăm sóc sức khỏe về thể lực và tinh thần, khai thác tối đa tiềm năng đó trong c c hoạt động lao động thông qua việc tuyển dụng, s dụng, tạo điều kiện về môi trƣờng làm việc, môi trƣờng văn hóa, có c c chế độ chính sách hợp lý kích thích động cơ, ý thức, đạo đức nghề nghiệp của ngƣời lao động để họ phát huy tối đa sức lực, kiến thức, kỹ năng, hiểu biết và cống hiến hết sức mình để đem lại hiệu quả công việc cao. Từ những luận điểm trên về nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực, có thể hiểu rằng: Nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực là đảm bảo đủ về số lƣợng; 12 nâng cao thể lực; nâng cao trí lực; nâng cao tâm lực, phẩm chất và đảm bảo cơ cấu hợp lý của NNL để đ p ứng tốt hơn yêu cầu công việc đặt ra nhằm đạt đƣợc mục tiêu chung của doanh nghiệp. Các tiêu chí đánh giá chất lƣợng nguồn nh n lực củ do nh nghiệp 1. Tiêu chí về thể lực Một con ngƣời khỏe mạnh là ngƣời không có bệnh tật về thể chất và tinh thần minh mẫn.
Một tinh thần “bệnh tật” là tinh thần luôn có những suy nghĩ hằn học, tức giận, lo âu, buồn phiền, căng thẳng dồn nén. khiến tƣ duy con ngƣời bị ảnh hƣởng, có thể không kiểm so t đƣợc những hành vi của bản thân. Sức khỏe thể hiện sự dẻo dai về thể lực của NNL trong qu trình làm việc. CLNNL không chỉ đƣợc thể hiện qua trình độ hiểu biết của con ngƣời mà còn cả sức khỏe của bản thân ngƣời đó.
Nếu không có sức khỏe, bao nhiêu kiến thức, kỹ năng cũng nằm lại trong thể x c con ngƣời đó. Có sức khỏe mới làm việc đƣợc, cống hiến đƣợc chất x m của mình. Phân loại sức khỏe NNL của Bộ Y tế quy định đƣợc xếp theo c c mức trên cơ sở đ nh gi tuyệt đối để có nhận xét định tính cho từng loại. Thể lực hay chính là thể chất NNL thể hiện vóc d ng về chiều cao, cân nặng và có thang đo nhất định.
Đối với từng ngành kh c nhau sẽ có yêu cầu thể chất kh c nhau. Thể chất NNL đƣợc biểu hiện qua quy mô và chất lƣợng thể chất. Quy mô thể hiện số lƣợng ngƣời đƣợc s dụng, thời gian NNL làm việc tại doanh nghiệp. Chất lƣợng thể hiện thông qua độ tuổi và giới tính.
Cơ cấu NNL theo giới tính là một thông số giúp doanh nghiệp đ nh gi đƣợc việc s dụng và bố trí NNL phù hợp với đặc điểm giới tính, nhất và giới tính nữ thƣờng có hạn chế ảnh hƣởng đến công việc do độ tuổi sinh đẻ, chăm sóc con nhỏ, công việc nội trợ. Độ tuổi thể hiện kinh nghiệm, bản lĩnh nhiều nhất là những ngƣời trên 40 tuổi nhƣng thể lực có thể giảm sút hơn so với NNL có độ 13 tuổi dƣới 40, độ tuổi này có thể có sự trải nghiệm ít so với tuổi trên 40 nhƣng bù lại có thể lực tốt, có khả năng xông pha tốt. Thể chất thể hiện tiềm năng sức khỏe của con ngƣời, thể hiện một phần mức độ năng động và khả năng giải quyết công việc. Do đó, thể chất tốt làm giảm khả năng mắc bệnh nghề nghiệp, làm cho CLNNL đƣợc đảm bảo hơn.