Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ 1. Khái niệm trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự 1. Khái niệm trách nhiệm hình sự Trách nhiệm hình sự là thuật ngữ của ngành khoa học pháp lý hình sự thể hiện hậu quả pháp lý mà người phạm tội phải gánh chịu do việc thực hiện hành vi phạm tội của họ gây ra. Theo Đại từ điển tiếng Việt, thuật ngữ “trách nhiệm” được hiểu là “điều phải làm, phải gánh vác hoặc phải nhận lấy về mình”.
Theo đó, có thể hiểu “trách nhiệm hình sự” là những hậu quả mà cá nhân phải chịu khi thực hiện những hành vi vi phạm bổn phận, trách nhiệm, nghĩa vụ của mình trước Nhà nước, xã hội hoặc cá nhân khác. Từ trước đến nay, xung quanh vấn đề hiểu “trách nhiệm hình sự” là gì, vẫn còn nhiều quan điểm, ý kiến khác nhau. Lê Cảm thì “trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm và được thể hiện bằng việc áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do luật hình sự quy định”[3].TS Nguyễn Ngọc Hoà và TS. Lê Thị Sơn thì cho rằng “trách nhiệm hình sự là một dạng của trách nhiệm pháp lý bao gồm nghĩa vụ phải chịu sự tác động của hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự, chịu bị kết tội, chịu biện pháp cưỡng chế của trách nhiệm hình sự (hình phạt, biện pháp tư pháp) và chịu mang án tích” 9, tr.TS Đỗ Ngọc Quang có quan niệm “trách nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm pháp lý, là trách nhiệm của người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong pháp luật hình sự bằng một hậu 7 quả bất lợi do Tòa án áp dụng tùy thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi mà người đó đã thực hiện”.
Theo từ điển giải thích thuật ngữ luật học có định nghĩa “Trách nhiệm hình sự là trách nhiệm của người phạm tội phải chịu những hậu quả pháp lí bất lợi về hành vi phạm tội của mình”[31, tr. Hiện nay, BLHS năm 2015 đã bổ sung thêm quy định chủ thể của tội phạm ngoài cá nhân là người phạm tội thì hiện nay bao gồm cả pháp nhân thương mại nên khái niệm trách nhiệm hình sự cũng cần phải được hiểu đầy đủ là trách nhiệm của người phạm tội hoặc pháp nhân thương mại phải chịu những hậu quả pháp lí bất lợi về hành vi phạm tội của mình. Trách nhiệm trong lĩnh vực pháp luật nói chung thường được hiểu theo hai nghĩa: là chức trách, nghĩa vụ, bổn phận phải làm hoặc là hậu quả pháp lý của việc vi phạm pháp luật. Thuật ngữ TNHS không dùng để chỉ nghĩa vụ, bổn phận mà công dân phải thực hiện với Nhà nước và xã hội mà nó phải được hiểu theo nghĩa là hậu quả pháp lý bất lợi mà một người phải gánh chịu trước Nhà nước và xã hội vì họ đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị pháp luật hình sự cảm hoặc không thực hiện những nghĩa vụ mà pháp luật hình sự bắt buộc phải thực hiện gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ [31, tr.
TNHS là một dạng của trách nhiệm pháp lý phản ánh mối quan hệ đặc biệt giữa Nhà nước với người phạm tội khi người đó thực hiện tội phạm. Do vậy, để nhận thức đầy đủ và toàn diện về TNHS, việc nghiên cứu khái niệm TNHS không chỉ dừng lại ở trách nhiệm của người phạm tội trước nhà nước mà cần được xem xét đồng thời từ hai góc độ: thực hiện hoạt động truy cứu TNHS từ phía Nhà nước và chịu TNHS từ phía người phạm tội [32, tr. Tuy đều là hậu quả của việc phạm tội nhưng việc thực hiện truy cứu TNHS từ phía 8 Nhà nước mới đưa đến kết quả phải chịu TNHS của người phạm tội. Thực chất, TNHS chính là nội dung của mối quan hệ giữa Nhà nước và người phạm tội phát sinh từ thời điểm tội phạm thực hiện hành vi phạm tội.
Không chỉ được điều chỉnh bởi Bộ luật hình sự mà mối quan hệ này còn được điều chỉnh bởi cả luật tố tụng hình sự và pháp luật về thi hành án. Nhắc đến vấn đề TNHS chính là nói đến hậu quả pháp lý của việc phạm tội thể hiện ở chỗ người gây ra tội phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và Nhà nước. Hậu quả pháp lí của việc thực hiện tội phạm đối với người phạm tội không chỉ thể hiện ở trách nhiệm cuối cùng của người phạm tội là bị kết án và phải chịu hình phạt nhất định mà còn thể hiện cả ở việc bị truy cứu TNHS. Như vậy, đối với người phạm tội, chịu TNHS có nghĩa là phải chịu tất cả các hậu quả do việc phạm tội đem lại: “phải chịu sự tác động của hoạt động truy cứu TNHS, chịu bị kết tội, chịu biện pháp cưỡng chế của TNHS (hình phạt, biện pháp tư pháp) và chịu mang án tích.
Bản chất của TNHS là sự lên án của Nhà nước đối với người có lỗi khi thực hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình sự quy định là tội phạm, Bằng bản án kết tội, Nhà nước chính thức lên án đối với người đã có hành vi phạm tội và trên cơ sở đó thể hiện thái độ phản ứng của mình thông qua việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế hình sự như áp dụng hình phạt, biện pháp tư pháp. Những biện pháp cưỡng chế này có đặc điểm chung là đều gây ra những tác động bất lợi về pháp lý đối với người phạm tội nhằm giảo dục, cải tạo họ trở thành người có ích cho xã hội, ngăn ngừa họ phạm tội mới. Từ những phân tích trên, ta có thể định nghĩa TNHS là một dạng của trách nhiệm pháp lý đồng thời là hậu quả pháp lý bất lợi cho người thực hiện hành vi phạm tội với nội dung bao gồm việc phải chịu sự tác động của hoạt động truy cứu TNHS, chịu bị kết tội, chịu biện pháp cưỡng chế của TNHS (hình phạt, biện pháp tư pháp) và chịu mang án tích. Khái niệm miễn trách nhiệm hình sự Thực tiễn xét xử cho thấy, không phải bất kỳ người nào thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà BLHS quy định là tội phạm, bị xã hội lên án và đáng bị xử lý hình sự thì đều phải chịu TNHS.
Điều đó đồng nghĩa trong trường hợp xét thấy không cần thiết phải áp dụng TNHS hoặc trường hợp theo luật định không phải áp dụng TNHS đối với người đó mà vẫn có thể đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm cũng như công tác giáo dục, cải tạo người phạm tội thì các cơ quan nhà nước có thẩm quyền không buộc họ phải chịu trách nhiệm hình sự, bản chất của hiện tượng trên dưới góc độ thuật ngữ khoa học pháp lý gọi là Miễn trách nhiệm hình sự. Khái niệm miễn trách nhiệm hình sự được tiếp cận dưới nhiều góc độ khoa học pháp lý dẫn đến những quan điểm khác nhau, không đồng nhất có thể kể đến các quan điểm: - GS. Lê Cảm cho rằng: Miễn trách nhiệm hình sự là một chế định nhân đạo của luật hình sự Việt Nam và được thể hiện bằng việc xóa bỏ hậu quả pháp lý của việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm đối với người bị coi là có lỗi trong việc thực hiện hành vi đó [2, tr. Nguyễn Ngọc Hòa cho rằng: “Miễn trách nhiệm hình sự được hiểu là biện pháp nhân đạo, phản ánh sự khoan hồng của nhà nước, do cơ quan tiến hành tố tụng hình sự áp dụng đối với người thực hiện hành vi phạm tội khi có căn cứ theo quy định của BLHS với nội dung là không buộc người phạm tội phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi về hành vi phạm tội mà họ đã thực hiện” [10, tr.TS Nguyễn Văn Huyên cho rằng: Miễn trách nhiệm hình sự là miễn hậu quả pháp lý bất lợi của việc phạm tội, thể hiện ở chồ người phạm tội không phải chịu sự kết tội của Tòa án, không bị coi là có tội, không phải chịu 10 hình phạt và không phải mang án tích.
Trịnh Tiến Việt quan niệm: Miễn trách nhiệm hình sự là trường hợp không buộc một người đáp ứng những điều kiện nhất định phải gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi do việc người đó đã thực hiện hành vi phạm tội, mà vẫn bảo đảm yêu cầu đấu tranh phòng ngừa, chống tội phạm, cũng như công tác giáo dục, cải tạo người phạm tội, cũng như công tác giáo dục, cải tạo người đó khi đáp ứng những trường hợp luật định [42, tr. Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lý luận và tổng kết nhiều quan điểm khoa học về miễn trách nhiệm hình sự, có thể hiểu khái niệm này như sau: “Miễn trách nhiệm hình sự là việc chủ thể tiến hành tố tụng có thẩm quyền quyết định không buộc một người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội có đủ các điều kiện chủ thể của tội phạm phải chịu hậu quả pháp lý hình sự của việc thực hiện hành vi phạm tội khi đáp ứng các điều kiện do luật định, mà vẫn bảo đảm yêu cầu đấu tranh phòng và chống tội phạm, cũng như công tác giáo dục, cải tạo người phạm tội”. Đặc điểm của miễn trách nhiệm hình sự Miễn trách nhiệm hình sự về bản chất chính là sự không buộc một người thực hiện hành vi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm mà người đó đã thực hiện. Miễn trách nhiệm hình sự không đồng nghĩa với trường hợp không có trách nhiệm hình sự.
Người được miễn trách nhiệm hình sự là người đã phạm một tội được quy định trong BLHS nhưng thuộc trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự. Còn người không có trách nhiệm hình sự là người mà hành vi của họ không có sự sai trái hoặc hành vi của họ tuy có đầy đủ các dấu hiệu của cấu thành tội phạm nhưng mức độ nguy hiểm không lớn nên không coi là tội phạm mà chỉ đáng xử lý về hành chính. Thông qua 11 việc phân tích khái niệm và nghiên cứu các quy định về miễn trách nhiệm hình sự, có thể rút ra một số đặc điểm cơ bản sau đây: Thứ nhất, miễn trách nhiệm hình sự phản ánh rõ nét nhất nguyên tắc nhân đạo của chính sách hình sự nói chung và luật hình sự nói riêng tại một quốc gia.