mở đầu cho quá trình phát triển nghề luật sư ở nước ta trong thời kỳ mới. Pháp lệnh quy định rõ tiêu chuẩn được công nhận là luật sư, theo đó những người là công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất, đạo đức tốt; tốt nghiệp đại học pháp lý hoặc có trình độ pháp lý tương đương; gia nhập Đoàn Luật sư và phải qua một thời gian tập sự từ sáu tháng đến hai năm và phải qua một kỳ kiểm tra mới được công nhận là luật sư. Pháp lệnh Luật sư năm 1987 đã chính thức dùng từ "luật sư" để chỉ những người hoạt động tư vấn pháp luật và bào chữa trước tòa án, tuy nhiên hoạt động bào chữa trước tòa không chỉ có luật sư mà bao gồm cả người đại diện 10 hợp pháp của bị can, bị cáo, đương sự và bào chữa viên nhân dân và họ đều được gọi chung là "người bào chữa". Sau hơn mười năm kể từ Đại hội Đảng lần thứ VI, công cuộc đổi mới ở đất nước ta đã thu được những thành tựu to lớn và quan trọng.
Từ nửa cuối thập niên 90, đất nước ta bước vào giai đoạn quan trọng của quá trình đổi mới, trong đó nhu cầu đẩy mạnh quá trình xây dựng cơ chế thị trường, yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền, mở rộng dân chủ, hội nhập quốc tế ngày càng trở nên sâu sắc, ở mức độ cao hơn. Cùng với những chủ trương đổi mới mạnh mẽ về kinh tế, Đảng và Nhà nước ta đã đồng thời đề ra và thực thi những chủ trương, biện pháp cải cách mạnh mẽ về tổ chức, hoạt động của các thiết chế trong hệ thống chính trị, trong đó có đổi mới tổ chức, hoạt động lập pháp, cải cách tổ chức, hoạt động của bộ máy hành chính, cải cách tư pháp nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền, thúc đẩy quá trình hội nhập của đất nước. Để đáp ứng yêu cầu của tình hình mới, Pháp lệnh Luật sư năm 2001 đã được ban hành. Nội dung của pháp lệnh thể hiện quan điểm cải cách mạnh mẽ tổ chức và hoạt động luật sư ở nước ta theo hướng chính quy hóa, chuyên nghiệp hóa đội ngũ luật sư, nghề luật sư, tăng cường vai trò tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư, tạo cơ sở pháp lý cho quá trình hội nhập quốc tế của nghề luật sư ở Việt Nam.
Tại khoản 1 Điều 1 Pháp lệnh Luật sư năm 2001 quy định: Luật sư là người có đủ điều kiện hành nghề theo quy định của pháp lệnh này và tham gia hoạt động tố tụng, thực hiện tư vấn pháp luật, các dịch vụ pháp lý khác theo yêu cầu của các cá nhân, tổ chức nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của pháp luật [40]. Định nghĩa này tuy phản ánh tương đối đầy đủ phạm vi hành nghề chủ yếu của luật sư, nhưng chưa làm rõ được về mặt lý luận địa vị pháp lý của luật 11 sư trong hệ thống cơ quan tư pháp và vị trí, vai trò của nó trong đời sống xã hội. Điều này thể hiện ở các khía cạnh: Thứ nhất: Xét về mặt chủ thể trong hoạt động tư pháp, do quan niệm luật sư chỉ là người tham gia tố tụng và phạm vi hoạt động luật sư thuộc lĩnh vực "bổ trợ tư pháp", nên thực chất luật sư chỉ được coi là người trợ giúp pháp lý mang tính bị động, không có cơ sở pháp lý cho việc hành nghề một cách bình đẳng và độc lập. Thứ hai: Về mặt xã hội, do chưa được thừa nhận là một chức danh tư pháp độc lập nên vai trò của luật sư trong tiến trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, trong cải cách tư pháp còn hạn chế.
Thực tiễn cho thấy, địa vị pháp lý của luật sư chưa được xác định một cách rõ ràng, cũng như chưa làm rõ ranh giới giữa phạm vi hành nghề dịch vụ pháp lý cho xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân, bảo vệ công bằng và chính nghĩa, với phục vụ lợi ích công. Thứ ba: Khái niệm luật sư nêu trên mới chỉ nhận diện một loại hình luật sư hoạt động tranh tụng và tư vấn, chưa bao quát được các loại hình hoạt động khác do thực tiễn đòi hỏi như luật sư trợ giúp pháp lý miễn phí cho người nghèo và đối tượng chính sách… Trước yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là cải cách tư pháp và hội nhập kinh tế quốc tế trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Bộ Chính trị đã có Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới, Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, trong đó đưa ra những định hướng quan trọng nhằm phát triển đội ngũ luật sư có phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ chuyên môn, đồng thời đề cao trách 12 nhiệm của các tổ chức hành nghề luật sư, phát huy hơn nữa vai trò tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư. Thể chế hóa các chủ trương của Đảng, ngày 29/6/2006, Quốc hội khóa XI thông qua Luật Luật sư, Luật Luật sư có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2007 và thay thế Pháp lệnh Luật sư năm 2001. Tại Điều 2 Luật Luật sư quy định: "Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của luật này, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là khách hàng)" [29].
Quy định về tiêu chuẩn luật sư là điểm mới của Luật Luật sư so với Pháp lệnh Luật sư năm 2001, để có thể trở thành luật sư người đó phải là công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư, có sức khỏe bảo đảm hành nghề luật sư. Về cơ bản, tiêu chuẩn luật sư tương tự như tiêu chuẩn đối với điều tra viên, kiểm sát viên và thẩm phán. Quy định này của Luật Luật sư không những đảm bảo sự thống nhất về tiêu chuẩn đối với các chức danh tư pháp, mà còn tạo cơ sở để gắn kết quá trình đào tạo nghề và hoạt động nghề nghiệp của luật sư với các chức danh tư pháp khác. Việc quy định cụ thể tiêu chuẩn luật sư góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho việc xem xét cấp, thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư, đăng ký gia nhập Đoàn Luật sư.
Mặt khác, quy định cụ thể về tiêu chuẩn luật sư cũng nhằm mục tiêu nâng cao chất lượng của đội ngũ luật sư, tiếp tục phát triển hoạt động luật sư theo hướng chuyên nghiệp hóa thành một nghề. Người có đủ điều kiện trở thành luật sư chỉ được gọi là luật sư và được phép hành nghề khi hội đủ hai điều kiện: được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư và đã gia nhập một Đoàn Luật sư do mình lựa chọn. Như vậy, điều kiện hành nghề luật sư khác với quy định của Pháp lệnh Luật sư năm 2001 đó là người muốn hành nghề luật sư phải gia nhập đoàn luật sư và có chứng chỉ 13 hành nghề luật sư. Quy định điều kiện hành nghề luật sư theo pháp lệnh luật sư năm 2001 không phù hợp với tính chất của nghề luật sư là một người muốn hành nghề luật sư thì trước hết phải được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận có đủ khả năng chuyên môn thông qua việc được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư.
Mặt khác, trong trường hợp luật sư tập sự không đạt yêu cầu của kỳ kiểm tra hết tập sự, vì thế không được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư, thì địa vị pháp lý của họ không thực sự rõ ràng. Điều kiện hành nghề theo Luật Luật sư đảm bảo tính chuyên nghiệp của nghề luật sư, phòng ngừa tình trạng những người không có đủ tiêu chuẩn, điều kiện vẫn thực hiện dịch vụ pháp lý như luật sư, góp phần bảo vệ lợi ích của cá nhân, tổ chức và xã hội, tăng cường quản lý về hành nghề luật sư. Dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn nêu trên, theo tác giả khái niệm về luật sư được hiểu như sau: Luật sư là công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư, có sức khỏe bảo đảm hành nghề luật sư, đã được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư và gia nhập một Đoàn Luật sư, thực hiện dịch vụ pháp lý tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng cho khách hàng và các dịch vụ pháp lý khác theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Hoạt động hành nghề của luật sư Trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa việc bảo đảm quyền tự do dân chủ của công dân là một trong những nhiệm vụ chủ yếu trong đường lối lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ta.
Hiện nay, luật sư được xác định là một chức danh tư pháp độc lập tham gia vào tiến trình mang tính định hướng này không thể tách rời với nhiệm vụ quan trọng mà Đảng, Nhà nước đã đề ra. Hoạt động hành nghề của luật sư trước hết phải thể hiện ở việc tuân thủ pháp luật của người hành nghề luật sư, dựa vào pháp luật để bảo 14 vệ quyền và lợi ích cho cá nhân, cơ quan, tổ chức bảo đảm sự thật khách quan và công lý. Hoạt động hành nghề luật sư được thể hiện ở uy tín nghề nghiệp, đây là thuộc tính quan trọng thể hiện bản chất của hoạt động hành nghề luật sư. Khách hàng có quyền lựa chọn luật sư cho mình, không phụ thuộc vào chỉ định bắt buộc hay can thiệp của bất cứ cơ quan, cá nhân nào và luật sư hành nghề bằng lời nói, soạn thảo văn bản tư vấn hay tranh tụng tại phiên tòa đều nhân danh cá nhân; thuộc tính này phân biệt hoạt động hành nghề của luật sư với hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng mang tính tập thể, dưới danh nghĩa cơ quan, tổ chức.