CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VE AP DỤNG BIEN PHAP CHONG BAN PHA GIÁ DOI VOI HANG HOA NHAP KHAU VA PHAP LUAT VE AP DUNG BIEN PHAP CHONG BAN PHA GIA DOI VỚI HANG HOA NHAP KHẨU 1. Khái quát về bán phá giá, áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với hàng hóa nhập khẩu 1. Khái niệm và đặc điểm bán phá giá hàng hóa nhập khẩu 1. Khải niệm bán phá giá hàng hóa nhập khẩu Theo cách hiéu thông thường, bán phá giá là hành vi ban hàng hóa với giá thấp hơn giá thị trường.
Theo Từ điền tiếng Việt, bán phá giá là: “ban 6 at hàng hóa với giá thấp hơn giá thị trường, thậm chí chịu lỗ. dé tăng khả năng cạnh tranh và chiếm đoạt thị trường "3. Như vay, cả hai cách hiểu trên đều coi bán phá giá là việc bán hang hoá với giá thấp hơn giá thị trường. Điểm khác biệt là, cách hiểu thứ nhất không xem xét mục đích của việc bán phá giá.
Cách hiéu thứ hai cho rang bán hàng hóa với giá thấp hơn giá thị trường. thậm chí thấp hơn chỉ phí sản xuất, để đạt được một mục đích cụ thể, chang han như loại bỏ đối thủ cạnh tranh hoặc chiếm lĩnh thi trường. Trên thực tế có rất nhiều lí do để người bán có thể bán với giá thấp hơn giá thị trường, thậm chí thấp hơn chi phí sản xuất mà không vì mục đích cạnh tranh không lành mạnh. chăng hạn như: chỉ phí sản xuất thấp, thanh lý hàng tồn kho, hàng hoá gần hết hạn, hàng hoá lỗi thời hoặc lỗi mốt, nhu cầu quay vòng vốn nhanh.
Các văn bản luật của WTO cũng đưa ra các khái niệm về bán phá giá. Khoản 1 Điều VI GATT 1994 quy định: “Các bên kỷ kết nhận thấy rằng bán phá giá, tức là việc sản phẩm của một nước được đưa vào kinh doanh thương mại trên thị trường của một nước khác với giá thấp hơn giá trị thông thường của sản phẩm, phải bị xử phạt nếu việc đó gây ra hoặc de doa gây ra thiệt hại đáng kề cho một ngành sản xuất trên lãnh thé của một bên ký kết hay thực sự làm chậm chế sự thành lập một ngành sản xuất trong nước ”.1 Điều 2 ADA quy định: “Trong phạm vi Hiệp định này, một sàn pham bị coi là bản pha giá (tức là được đưa vào lưu thông thương mại ? Viện Ngôn ngữ học (2003), Tir điển tiếng Viér, Nhà xuất ban Từ điển Bách khoa, tr 32. 10 của một nước khác thấp hơn trị giá thông thường của sản phẩm đó) nếu như giá xuất khẩu của san phẩm được xuất khẩu từ một nước này sang một nước khác thấp hơn mức giá có thể so sánh được của sản phẩm tương tự được tiêu dùng tại nước xuất khẩu theo các điều kiện thương mại thông thường. ” Như vậy, bán phá giá trong thương mại quốc tế xảy ra khi một hàng hoá từ một nước được xuất khẩu sang một nước khác với mức giá xuất khâu thấp hơn giá thông thường của hang hoá tương tự tại nước xuất khẩu.
Khái niệm nay bao gồm hai điều kiện chính khi xác định hành vi bán phá giá: (i) phải có hai thị trường riêng biệt, hai thị trường này phải được ngăn cách bởi các đường biên giới quốc gia hoặc vùng: (ii) giá bán của cùng một loại hàng hoá tương tự ở thị trường nhập khẩu phải thấp hơn giá bán của hàng hoá tương tự tại thị trường nước xuất khẩu hoặc một thị trường thứ ba. Luật WTO không xem xét việc bán phá giá là bán dưới giá thành của hàng hóa và không xem xét thiệt hại mà ngành sản xuất tương tự của nước nhập khau phải chịu do hành vi bán phá giá gây ra làm căn cứ đề xác định bán phá giá. Theo quy định của WTO, hành vi ban phá giá được xác định đựa trên sự chênh lệch giữa giá xuất khâu và giá thông thường của hàng hóa tại nước xuất khâu. Ngoài ra, quy định về bán phá giá trong ADA không xem xét mục đích của hành vi bán phá giá để xác định là có bán phá giá hay không.
ma chi căn cứ vào thiệt hại do hành vi bán phá giá gây ra là một trong các điều kiện dé quyết định áp dụng các biện pháp CBPG đối với hàng hóa nhập khâu. Tại Việt Nam, khái niệm bán phá giá lần đầu tiên được quy định tại Pháp lệnh Giá năm 2002. Khoản 3 Điều 4 Pháp lệnh Giá năm 2002 quy định: “Ban pha giá là hành vi bán hàng hoá, dịch vụ với giá quá thấp so với giá thông thường trên thị trường Việt Nam dé chiếm lĩnh thị trường, hạn chế cạnh tranh đúng pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích hợp pháp của tô chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh khác và lợi ich của Nhà nước. `” Theo đó, một hành vi được coi là bán phá giá khi đáp ứng hai điều kiện sau: Tht nhất, bán hàng hóa hoặc dịch vụ với giá quá thấp so với giá thông thường trên thị trường Việt Nam.
Việc xác định hành vi bán phá giá dựa trên sự so 11 sánh giữa gia bán thực tế và giá thông thường của hàng hóa bị điều tra, chứ không phái là sự phân biệt giá giữa các thị trường quốc tế. 77# hai, mục đích của hành vi bán phá giá nhằm chiếm lĩnh thị trường và hạn chế cạnh tranh đúng pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích hợp pháp của cá nhân. tổ chức khác và xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước. Nếu chưa xác định được mục đích của hành vi, không thé kết luận có hành vi bán phá giá.
Pháp lệnh Giá năm 2002 là văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên ở Việt Nam dé cập đến khái niệm bán phá giá với phạm vi áp dung bao gồm tat cả tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài hoạt động sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam, không phân biệt nguồn gốc hàng hóa hoặc dịch vụ; đo đó, các quy định về bán phá giá có thể áp dụng cho cả hàng hoá nội địa và hàng hóa nhập khâu. Nhìn chung, các quy định trong Pháp lệnh Gia năm 2002 còn nhiều hạn chế và chưa có giá trị thực thi. Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay, khái niệm “bán phá giá” được quy định tại khoản 2 Điều 77 LQLNT năm 2017: “Hang hóa được xác định bị ban phá giá khi nhập khẩu vào Việt Nam với giá thấp hơn giá thông thường là giá có thể so sảnh được của hàng hóa tương tự bán tại nước xuất khẩu hoặc tại một nước thứ ba trong các điều kiện thương mai thông thường hoặc mức giá mà cơ quan điều tra xác định bằng phương pháp tự tính toán.” Theo quy định này, hành vi bán phá giá đã được giới han chi trong phạm vi hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam, thay vì bao gềm cả hàng hóa nội địa như trước day. Giá chuẩn được sử dụng để xác định việc ban phá giá là giá thông thường của hàng hoá tương tự tại thị trường xuất khẩu hoặc tại thị trường một nước thứ ba hoặc mức giá mà CQDT xác định bằng phương pháp tự tính toán.
Điều này có nghĩa là không có hiện tượng bán phá giá nêu giá xuất khâu của hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam không thấp hơn giá của hàng hóa tương tự tại thị trường xuất khẩu, ngay cả khi nó thấp hơn giá của hàng hóa tương tự được sản xuất tại Việt Nam. Cách tiếp cận này phù hợp với khái niệm về bán phá giá trong các Hiệp định của WTO. Như vậy, bán phá giá trong thương mại quốc tế là hiện tượng xảy ra khi một hàng hoá của nước này được xuât khâu vào một nước khác với mức giá xuât khâu thấp hơn giá trị thông thường của hàng hóa tương tự tại nước xuất khâu. Trong khái niệm này, hai yếu tô then chốt dé xác định hành vi bán phá giá là giá xuất khẩu và giá trị thông thường, sẽ được các cơ quan có thâm quyền của nước nhập khâu xác định và tính toán theo các phương pháp vả tiêu chí được quy định trong luật lệ của WTO và pháp luật quốc gia.
Đặc điểm bản phá giá hàng hoá nhập khẩu Từ những phân tích trên, có thé thấy “ban phá giá hang hoá nhập khâu” có một số đặc điểm sau: Thứ nhất, d6i tượng của hành vi bán phá giá là các loại hàng hóa được phép lưu thông trong thương mại quốc tế, không bao gồm lĩnh vực dịch vụ. Bởi hàng hóa là những sản phẩm vật chất có thể lưu trữ, vận chuyền, kiểm đếm; trong khi dịch vụ có tính vô hình, quá trình sản xuất và tiêu dùng diễn ra đồng thời và không thê lưu trữ. Điều này làm cho việc xác định giá trị, chỉ phí và giá thành của dịch vụ trên phạm vi toàn cầu rất khó khăn so với hàng hóa. Pháp luật về CBPG áp dụng nguyên tắc đối vật, nghĩa là tập trung vào hàng hóa nhập khâu gây thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước ma không xử phạt người thực hiện hành vi; trong khi đó, việc cung ứng dịch vụ luôn gắn liền với người cung tng, khiến nguyên tắc này khó áp dụng.
Hiện tại, khái niệm bán phá giá địch vụ chỉ mang giá trị nghiên cứu lý thuyết. Vì những lý do này, việc xác định hành vì bán phá giá hiện tại chỉ tập trung vào đối tượng hàng hóa. Thứ hai, về phạm vi không gian. bán phá giá trong thương mại quốc té xảy ra trong quá trình xuất nhập khẩu hàng hóa.
Do đó, cần có sự ton tại của hai thị trường riêng biệt. Hai thị trường này có sự ngăn cách bởi các đường biên giới quốc gia hoặc vùng lãnh thé. Thứ ba, về hành vi, bán phá giá trong thương mại quốc tế là sự phân biệt giá quốc tế. Hành vi bán phá giá, dưới góc độ phân biệt giá, đòi hỏi phải đáp ứng các điều kiện sau: Một là, việc phan biệt giá phải được áp dụng cho các giao dịch tương tự nhau, trong đó các hàng hóa phải có khả năng thay thế cho nhau về các đặc tính: vật lý, hóa học, chức năng.
Các giao dịch được so sánh phải tương đương về giá trị, giá trị của 13 giao dich được xác định thông qua giá trị hang hóa, số lượng. hoặc khối lượng được mua bán, và thường xảy ra trong cùng điều kiện thị trường để đảm bảo sự tương đương. Các giao dịch này cũng phải nằm ở các tầng phân phối hoặc giai đoạn thương mại tương đương. CQDT thường lay mốc ở giai đoạn xuất xưởng dé so sánh.