Chương 1. Tổng quan về hoạt động cho vay ngang hàng của các công ty Fintech và pháp luật điều chỉnh hoạt động cho vay ngang hàng của các công ty Fintech Chương 2. Thực trạng pháp luật và một số khuyên nghị nhằm hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động cho vay ngang hàng của các công ty Eintech tại Việt Nam PHAN NOI DUNG CHUONG 1. TONG QUAN VE HOAT DONG CHO VAY NGANG HANG CUA CAC CONG TY FINTECH VA PHAP LUAT DIEU CHINH HOAT DONG CHO VAY NGANG HANG CUA CAC CONG TY FINTECH 1.
Những van đề cơ ban về hoạt động cho vay ngang hang của các công ty Fintech 1. Khái quát về công ty Fintech 1. Định nghĩa về Fintech và công ty Fintech “Fintech” là thuật ngữ có nguồn gốc từ hai từ “tài chính” (Financial) và “khoa học công nghệ” (Technology), theo đó Fintech được hiểu là sự kết hợp của những hoạt động kinh doanh của ngành dịch vụ tài chính và những công nghệ hiện đại dựa trên nền tang Internet. Theo Uỷ ban Chứng khoán và Dau tư Úc (Australian Securities and Investments Commission- ASIC), Fintech là một thuật ngữ được sử dung để mô tả việc su dụng công nghệ trong các dich vụ tài chính.
Cac công ty Fintech thường là các doanh nghiệp mới thành lập, sử đụng mô hình kinh doanh mới dẫn đến phá vỡ hệ thống tài chính hiện tại. Fintech tạo ra các mô hình kinh doanh mới và các sản phẩm mới cạnh tranh với hoạt động ngân hàng cốt lõi, bảo hiểm, hoặc thanh toán!. Patrick Schueffel nhận định Fintech được coi “là một ngành công nghiệp tài chính mới áp dung công nghệ dé nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính?”. Bên cạnh đó, Uỷ ban On định Tài chính (Financial Stability Board- FSB) cũng đã đưa ra một định nghĩa chung và tương đối toàn diện về Fintech như sau “Fintech as technology-enabled innovation in financial services that could result in new business models, applications, processes or products with an associated material effect on the provision offinancial services*”.
Theo đó có thê hiểu “Fintech là sự đổi mới về công nghệ trong các dich vụ tài chính có thé cho phép hình thành các mô hình ! Australian Securities and Investments Commission (2016), Fintech: ASIC’s Approach and Regulatory Issues, A paper submitted for the Melbourne Money & Finance Conference July 2016, tr. ? Patrick Schueffel (2016), “Taming the Beast: A Scientific Definition of Fintech”, Journal of Innovation Management, vol. 3 Financial Stability Board (2019), FSB report assesses FinTech developments and potential financial stability implications, tr. kinh doanh, các ứng dung, các quy trình hoặc các sản phẩm mới có tác động quan trọng liên quan đến VIỆC Cung cấp các địch vụ tài chính.
Đặc biệt, trong định nghĩa mà FSB đưa ra thì Fintech không chỉ là các hoạt động của các công ty Fintech, mà đó còn là hoạt động của các ngân hàng truyền thống. Định nghĩa này đã đóng góp cho việc phân tích và xây dựng các chiến lược hợp tác hay cạnh tranh giữa các ngân hàng truyền thống và các công ty Eintech. Tại Việt Nam, trong Dự thảo Nghị định quy định về Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực ngân hàng (phiên bản 22/4/2024) (sau đây gọi tắt là Dự thảo Fintech 2024) định nghĩa Giải pháp công nghệ tài chính (giải pháp Fintech) trong lĩnh vực ngân hàng “là những đổi mới sáng tạo và hiện đại về sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh mới dựa trên các giải pháp công nghệ được ứng dung trong lĩnh vực ngân hàng?” và Công ty công nghệ tài chính (công ty Fintech) “Ia t6 chức không phái là tổ chức tín dụng, có giấy phép thành lập hoặc đăng ký kinh doanh hợp pháp trên lãnh thé Việt Nam, độc lập cung ứng giải pháp Fintech hoặc thông qua hợp tác với tổ chức tín dụng, chỉ nhánh ngân hàng nước ngoài để cung ứng giải pháp Fintech ra thị trường”. Từ các định nghĩa trên có thể thấy Fintech được nhận diện qua một số dấu hiệu sau: đây là hoạt động ứng dụng công nghệ trong ngành dịch vụ tài chính; tạo ra các sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh mới; được thực hiện trên nền tảng Internet.
Các công ty Fintech sẽ thực hiện các hoạt động nêu trên dé mang tới các sản phẩm, dịch vụ tài chính mới mẻ, tiện lợi, hứa hẹn sẽ thay thé một số các sản phẩm, dịch vụ truyền thống trong tương lai. Nhìn chung, trên thế giới đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về Fintech. Trong phạm vi bài viết, Fintech được hiểu là việc sử dụng các sáng kiến, công nghệ mới đề cung ứng các dịch vụ tài chính, công ty Fintech được hiểu là những công ty tham gia cung cấp dich vụ tài chính dựa trên nên tang công nghệ, bao gồm các hoạt động liên quan đến sáng tạo, đổi mới trong công nghệ nhằm cung ứng giải pháp hoặc địch vụ tài chính hiện đại, da dang và tiện lợi. * Xem khoản I Điều 3 Dự thảo Nghị định quy định về Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực ngân hàng (phiên bản 22/4/2024) 5 Xem khoản 2 Điều 3 Dự thảo Nghị định quy định về Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực ngân hàng (phiên bản 22/4/2024) Trong quan hệ giao dich Fintech gồm ba đối tượng là định chế tài chính, công ty Fintech và khách hang.
Đây là điểm khác biệt so với thị trường tài chính truyền thống khi chỉ gồm hai đối tượng là các định chế tài chính và khách hàng. Cụ thé các đối tượng trong giao dịch Fintech như sau: (1) Các định chế tài chính là những thực thé đóng vai trò quan trọng trong ngành tài chính, hiện nay các định chế này đang ngày càng mở rộng hợp tác với các công ty Fintech do nhận thức được sự của công nghệ. Các định chế này cũng có sự chủ động trong việc đầu tư vào các công ty Fintech hoặc tiễn hành các hoạt động nghiên cứu để năm bắt công nghệ mới, từ đó giữ vững vị thế trong thị trường. (2) Các công ty Fintech là các doanh nghiệp độc lập có hoạt động trong lĩnh vực công nghệ, các công ty này thực hiện cung cấp các sản phâm, địch vụ mới trong lĩnh vực tài chính.
Khách hàng của họ có thể là người sử dụng cuối cùng hoặc chính là các định chế tài chính. (3) Khách hàng là những người sử dụng các sản phẩm và dịch vụ tài chính. Nhờ vào sự phát triển của công nghệ mới, họ được hưởng lợi nhiều nhất từ sự cạnh tranh giữa các công ty và định chế tài chính, cũng như từ những tiện ích công nghệ tiên tiễn mà các công ty này mang lại. Một số loại hình công ty Fintech Căn cứ vào các đối tượng được cung ứng dịch vụ, các công ty Fintech có thể được chia thành hai nhóm gồm: Thứ nhất, các công ty phục vụ người tiêu dùng thông thường bằng việc cung cấp các công cụ kỹ thuật số nhằm tạo ra các sản phẩm tài chính mới tương ứng với các lĩnh vực hoạt động hiện tại của ngành tài chính truyền thống như cho vay, thanh toán, huy động vốn, bảo hiểm, đầu tư và quản lý tài sản.
Cụ thể: Trong lĩnh vực thanh toán, công ty Fintech mang đến các phương thức thanh toán hiện đại như thanh toán di động và ví điện tử. Trong huy động vốn, công ty Fintech tạo ra mô hình gọi vốn cộng đồng Trong mảng cho vay, công ty Fintech triển khai sản phẩm cho vay ngang hàng (Peer-to-Peer Lending - P2P Lending) trên nền tảng trực tuyến dé kết nỗi trực tiếp giữa người vay và người cho vay. 10 Đối với bảo hiểm, công ty Fintech cung cấp mô hình môi giới và các công ty bảo hiểm nhằm cải thiện khả năng tìm kiếm san phẩm bảo hiểm phù hợp và mang đến các giải pháp tối ưu hơn cho khách hàng thông qua công nghệ. Về đầu tư và quan lý tài sản, công ty Fintech cung cấp các giải pháp tư vấn, lựa chọn và quản lý đầu tư dựa trên công nghệ, thông qua mạng giao địch xã hội và các nền tang tu van tự động.
Thứ hai, các công ty cung cấp những sản pham công nghệ hậu cần (Back- office), hỗ trợ công nghệ cho các định chế tài chính truyền thống như ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán. Nhóm này sẽ cung cấp các sản phẩm công nghệ như công cụ bảo mật, phần mềm nhận diện khách hàng, quản lý và phân tích dữ liệu, quản lý rủi ro, quản lý quan hệ khác hàng, các phần mềm quản lý tài chính cá nhân và doanh nghiệp. Khái quát về hoạt động cho vay ngang hàng của các công ty Fintech Trong những năm gần đây, các công ty Fintech có sự phát triển ngày càng mạnh mẽ, cung cấp các giải pháp tài chính mới trên nền tảng số; trong đó có mô hình cho vay ngang hàng - P2P lending. Trên thế giới, mô hình cho vay ngang hàng đã xuất hiện ở nhiều quốc gia với nhiều công ty lớn như Zopa, Dianrong, Lufax, Funding Circle (Anh); Lending Club, Prosper (Hoa Kỳ); Ppdai (Trung Quốc).
Dinh nghĩa về hoạt động cho vay ngang hàng của công ty Fintech Cho vay ngang hàng (Peer to Peer Lending - P2P Lending) là thuật ngữ được ra đời vào thế kỷ 21 cùng với sự ra đời của công nghệ tài chính Fintech và có sự xuất hiện lần đầu tiên ở Anh vào năm 2005 cùng với sự ra đời của nền tảng cho vay ngang hàng - Zopa. Về mặt học thuật, theo ông Alan B. Krueger — nguyên Chủ tịch Hội đồng Cố van Kinh tế thuộc Nhà Trắng (White House Council of Economic Advisers} của Hoa Ky cho rang “Cho vay ngang hàng là một cách dé liên kết người cho vay với người đi vay mà không can trung gian là ngân hàng, giống như cách mà eBay đối sánh người mua và người bán hàng hóa mà không cần có cửa hàng ở giữa”5 6 Nguyễn Thị Hoài Thu (2022), Cho vay ngang hàng và một số kiến nghị xây dựng khung pháp luật điều chỉnh tại Việt Nam, Tạp chí Pháp luật và Phát triển số 9+10/2022, https://bachkhoaluat.vn/v5-cam- nang/20562/cho-vay-ngang-hang-va-mot-so-kien-nghi-xay-dung-khung-phap-luat-dieu-chinh-tai-viet-nam truy cập 13/11/2024 11 Theo Từ điển tài chính Investopedia, cho vay ngang hang - P2P Lending được định nghĩa là “một hình thức gọi vốn cong déng dya trên các khoản vay (loan-based crowdfunding) mà trong đó các nền tảng công nghệ kết nối trực tuyến (platforms) được sử dung dé kết nói trực tiép/gidn tiếp các nhà dau tu (investors) và bên kêu gọi vốn (borrowers) nhằm cung cấp một khoản vay tín chấp có lãi suất mà không cần các ngân hàng, tổ chức tín dung làm trung gian”. Tại Việt Nam, theo Vụ Chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước (2020), cho vay ngang hàng — P2P Lending được hiểu là sự trao đổi tài chính trực tuyến, giữa các cá nhân hoặc tổ chức mà không thông qua trung gian trực tiếp như tổ chức tài chính truyền thống.