Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT 1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự của Viện kiểm sát 1. Khái niệm giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự của Viện kiểm sát Quyền khiếu nại, tố cáo là một trong những quyền con người, quyền công dân cơ bản, được Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 ghi nhận tại Điều 30, cụ thể: “Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo, người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật; nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng việc khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo và làm hại người khác”.
Theo quy định của Hiến pháp, mọi người đều có quyền khiếu nại, tố cáo; các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo nhằm bảo vệ kịp thời quyền, lợi ích hợp pháp của người khiếu nại, tố cáo. Luật Khiếu nại 2011 giải thích từ ngữ “khiếu nại” gắn với hoạt động quản lý hành chính như sau: “Khiếu nại là việc cá nhân theo thủ tục quy định của Luật này báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân”; Luật Tố cáo 2018 giải thích thuật ngữ “tố cáo” là “việc cá nhân theo thủ tục quy định của Luật này báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân”. Có thể hiểu khiếu nại là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức 8 theo quy định pháp luật đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định, hành vi của mình khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình; tố cáo là việc cá nhân theo quy định pháp luật báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Giữa khiếu nại và tố cáo có những điểm khác nhau về chủ thể thực hiện, đối tượng tác động và có trình tự, thủ tục giải quyết riêng; đồng thời có những điểm chung ở khía cạnh đảm bảo quyền con người trước các tác động bởi các hành vi, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền đối với người bị tác động.
Khiếu nại, tố cáo là quyền của người dân, được bảo đảm thực hiện trong nhiều hoạt động khác nhau của các cơ quan nhà nước, trong đó có hoạt động TTHS. Hoạt động TTHS có thể coi là một loại HĐTP, là hoạt động thực hiện các trình tự, thủ tục để giải quyết vụ việc hình sự. Các trình tự, thủ tục đó được quy định trong pháp luật TTHS mà tiêu biểu là BLTTHS. Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong TTHS, trên cơ sở nhiệm vụ, quyền hạn của mình được pháp luật TTHS quy định thực hiện các hành vi tố tụng, ban hành các quyết định, văn bản tố tụng nhằm giải quyết đúng đắn vụ việc hình sự.
Các quyết định, hành vi đó mang tính quyền lực nhà nước, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của người tham gia tố tụng. Trong đó có những quyết định, hành vi tố tụng tác động trực tiếp tới quyền con người, quyền công dân của người dân như các quyết định, hành vi áp dụng đối với người bị nghi thực hiện tội phạm, người bị buộc tội. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại, cá nhân có quyền tố cáo các hành vi, quyết định tố tụng trên theo quy định của BLTTHS. VKSND là cơ quan có chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát HĐTP.
Trong tố tụng hình sự, VKS là cơ quan tiến hành TTHS; Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên thuộc VKS là người tiến hành TTHS. Gắn với chức năng của mình, nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong TTHS gồm nhiệm vụ, 9 quyền hạn khi thực hành quyền công tố và nhiệm vụ, quyền hạn khi kiểm sát hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác trong TTHS. Do đó, một mặt các hành vi, quyết định của VKS trong TTHS có thể bị cơ quan, tổ chức, cá nhân khiếu nại, tố cáo và VKS có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết các khiếu nại, tố cáo đó; một mặt VKS trực tiếp giải quyết khiếu nại, tố cáo về hành vi, quyết định trong TTHS của cơ quan, cá nhân khác bị khiếu nại, tố cáo theo quy định. Ngoài thực hiện chức năng tư pháp Nhà nước quy định, VKS đồng thời thực hiện quản lý hành chính trong nội bộ ngành kiểm sát.
Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến việc thực hiện quản lý này được giải quyết theo thủ tục riêng theo quy định của Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo, không thuộc trường hợp giải quyết khiếu nại, tố cáo của VKS trong TTHS. Quyền khiếu nại, tố cáo của người dân chỉ được bảo đảm thực hiện và có ý nghĩa khi công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan, người có thẩm quyền được thực hiện kịp thời, chất lượng, đúng quy định pháp luật. Khiếu nại, tố cáo của người dân trong TTHS cũng chỉ được bảo đảm khi công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trong TTHS được thực hiện kịp thời, đúng quy định pháp luật TTHS, trong đó có công tác giải quyết khiếu nại tố cáo trong TTHS thuộc thẩm quyền của VKS. Mục đích của hoạt động TTHS là phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội nên trường hợp xảy ra oan sai, vi phạm sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các quyền về nhân thân, tính mạng, sức khỏe.
xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước được pháp luật bảo vệ. Trong tố tụng hình sự, VKS là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát HĐTP, từ đó đặt ra yêu cầu VKS giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động TTHS thuộc thẩm quyền phải kịp thời, chính xác nhằm bảo đảm lợi ích Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; đồng thời bảo đảm mục đích của của hoạt động TTHS như đã nêu trên. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, BLTTHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021 đã có nhiều sửa đổi, bổ sung so với Bộ luật trước đó theo hướng bảo đảm mạnh mẽ hơn quyền con người, quyền công dân trong TTHS, trong đó có quyền 10 khiếu nại, tố cáo và trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo. Theo đó, Điều 32 quy định rõ nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong TTHS; các điều 469, 478 quy định tách bạch về quyền khiếu nại, quyền tố cáo trong tố tụng hình sự.
Đồng thời, Thông tư liên tịch số 02/2018/TTLT-VKSTC-TATC-BCA-BQP-BTC- BNN&PTNT ngày 05/9/2018 của VKSND tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn về việc phối hợp thi hành một số quy định của BLTTHS về khiếu nại, tố cáo (sau đây gọi là Thông tư liên tịch số 02/2018) quy định: “Khiếu nại trong TTHS là việc cơ quan, tổ chức, cá nhân (sau đây gọi chung là người khiếu nại), theo thủ tục quy định tại Chương XXXIII của BLTTHS, đề nghị cơ quan, người có thẩm quyền xem xét lại quyết định, hành vi tố tụng, quyết định giải quyết khiếu nại khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình”; “Tố cáo trong TTHS là việc cá nhân theo thủ tục quy định tại Chương XXXIII BLTTHS, báo cho cơ quan, người có thẩm quyền về hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động TTHS của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng mà họ cho rằng hành vi đó gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân”. Chương XXXIII BLTTHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021, gồm các điều từ Điều 469 đến Điều 483 quy định cụ thể về trình tự, thủ tục, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong TTHS và được cụ thể tại Thông tư liên tịch số 02/2018. Như vậy, song song với nhấn mạnh quyền khiếu nại, tố cáo trong TTHS của cơ quan, tổ chức, cá nhân; quy định nguyên tắc và quy định cụ thể của BLTTHS đồng thời nhấn mạnh trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo là cơ quan, người có thẩm quyền phải tiếp nhận, xem xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo kịp thời, đúng pháp luật; gửi văn bản kết quả giải quyết cho người khiếu nại, tố cáo, cơ quan, tổ chức khiếu nại và có biện pháp khắc phục; trình tự, thủ tục, thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định của BLTTHS. Bộ luật TTHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021 cũng đã có những quy định cụ thể về vị trí, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn, hoạt động của VKSND trong TTHS.
Do đó, với tư cách là cơ quan, người có 11 thẩm quyền tiến hành tố tụng, kiểm sát hoạt động tố tụng, VKS có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo trong TTHS thuộc thẩm quyền theo quy định của BLTTHS.