Tổng quan nghiên cứu

Tham nhũng và các tội phạm về hối lộ luôn là thách thức nghiêm trọng đối với sự ổn định chính trị, phát triển kinh tế và trật tự quản lý nhà nước tại mọi quốc gia. Ngày 31 tháng 10 năm 2003, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua Công ước về chống tham nhũng (UNCAC), chính thức có hiệu lực toàn cầu từ ngày 14 tháng 12 năm 2005. Việt Nam đã phê chuẩn Công ước theo Quyết định số 950/2009/QĐ-CTN và văn kiện này chính thức phát sinh hiệu lực đối với Việt Nam từ ngày 18 tháng 9 năm 2009.

Do Công ước không có hiệu lực áp dụng trực tiếp, việc chuyển hóa các quy định quốc tế vào pháp luật hình sự quốc gia là nghĩa vụ bắt buộc nhằm thực hiện hiệu quả các cam kết quốc tế. Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã có nhiều bước tiến quan trọng khi sửa đổi Điều 354 về Tội nhận hối lộ, Điều 364 về Tội đưa hối lộ và Điều 365 về Tội môi giới hối lộ, đồng thời mở rộng phạm vi điều chỉnh sang khu vực ngoài nhà nước. Tuy nhiên, qua hơn 5 năm thi hành trong phạm vi toàn quốc, các quy định hiện hành vẫn bộc lộ nhiều điểm bất cập và chưa tương thích toàn diện với chuẩn mực của Công ước.

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là đánh giá toàn diện mức độ tương thích giữa pháp luật hình sự Việt Nam và Công ước về các hành vi hối lộ từ năm 2015 đến năm 2022. Từ việc phân tích thực trạng lập pháp và thực tiễn xét xử, đề tài đề xuất hệ thống giải pháp lập pháp nhằm hoàn thiện các quy định của Bộ luật Hình sự, nâng cao tỷ lệ xử lý đúng người, đúng tội, tránh bỏ lọt tội phạm và hiện thực hóa mục tiêu cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 25 tháng 5 năm 2005 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng của hai học thuyết pháp lý cơ bản về mối quan hệ giữa luật quốc tế và luật quốc gia: Học thuyết Nhất nguyên luận (Monism) và Học thuyết Nhị nguyên luận (Dualism). Việt Nam vận dụng linh hoạt lý thuyết nhị nguyên khi thực hiện chuyển hóa các cam kết quốc tế vào hệ thống pháp luật thực định thông qua quy trình lập pháp độc lập, phù hợp với Hiến pháp năm 2013 và Luật Điều ước quốc tế năm 2016.

Khung lý thuyết của luận văn tập trung làm rõ 4 khái niệm pháp lý then chốt:

  1. Nội luật hóa điều ước quốc tế: Quá trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ các quy phạm pháp luật trong nước để bảo đảm sự phù hợp với các cam kết quốc tế mà quốc gia là thành viên.
  2. Tội phạm hối lộ: Nhóm hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức, bao gồm hành vi nhận hối lộ, đưa hối lộ và môi giới hối lộ gắn liền với yếu tố vụ lợi.
  3. Lợi ích không chính đáng (undue advantage): Thuật ngữ cốt lõi theo Điều 15 và Điều 16 của Công ước, bao hàm cả lợi ích vật chất có thể định giá và lợi ích phi vật chất vô hình mà người nhận không có quyền hưởng theo luật định.
  4. Cấu thành tội phạm chức vụ: Hệ thống các dấu hiệu pháp lý khách quan và chủ quan xác định tính nguy hiểm của hành vi lạm dụng quyền lực công hoặc quyền hạn tư nhân để thu lợi bất chính.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu đa tầng bao gồm hệ thống văn bản pháp luật thực định của Việt Nam, các văn kiện pháp lý quốc tế của Liên hợp quốc và dữ liệu thực tiễn xét xử. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm 120 bản án hình sự sơ thẩm và phúc thẩm về các tội phạm hối lộ được công bố công khai trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tối cao trong giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2022, kết hợp khảo sát 35 công trình nghiên cứu chuyên khảo, bài báo khoa học và báo cáo tổng kết ngành.

Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu có chủ đích kết hợp phân tầng theo nhóm tội danh (Điều 354, Điều 364, Điều 365 Bộ luật Hình sự) và theo lĩnh vực (khu vực công và khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước). Lý do lựa chọn phương pháp này nhằm đảm bảo tính bao quát, phản ánh đúng những vướng mắc thực tiễn phát sinh khi xử lý các hành vi hối lộ phức tạp. Quá trình phân tích kết hợp phương pháp luật học so sánh giữa pháp luật Việt Nam với Bộ luật Hình sự Trung Quốc và Bộ luật Hình sự Liên bang Nga, phương pháp phân tích quy phạm và phương pháp tổng hợp lịch sử lập pháp để làm sáng tỏ các luận điểm khoa học.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình đối chiếu giữa các điều khoản của Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng và Bộ luật Hình sự năm 2015 chỉ ra 4 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, về hành vi thuộc mặt khách quan, mức độ tương thích lập pháp mới đạt khoảng 65%. Điều 15 của Công ước quy định cấu thành hành vi đưa hối lộ bao gồm các hành động "hứa hẹn", "chào mời" hoặc "cho", và nhận hối lộ gồm "đòi hỏi" hoặc "nhận". Trong khi đó, Điều 354 và 364 Bộ luật Hình sự hiện hành chỉ mới quy định hành vi "đã đưa hoặc sẽ đưa", "nhận hoặc sẽ nhận", bỏ sót các hành vi mang tính chất tạo điều kiện như hứa hẹn hoặc đề nghị lợi ích nếu chưa có sự tiếp nhận từ phía đối tác.

Thứ hai, về khách thể của hối lộ, việc lượng hóa giá trị vật chất từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng cho khung hình phạt cơ bản đã tạo thuận lợi trong định tội. Mặc dù luật đã bổ sung "lợi ích phi vật chất", nhưng do thiếu định nghĩa cụ thể về "lợi ích không chính đáng", thực tiễn áp dụng cho thấy hơn 30% các vụ việc liên quan đến hối lộ tình dục, thành tích, bổ nhiệm chức vụ hoặc du lịch nghỉ dưỡng gặp bế tắc trong khâu thu thập chứng cứ và định giá thiệt hại.

Thứ ba, về phạm vi chủ thể, pháp luật Việt Nam chưa hình sự hóa hành vi hối lộ của pháp nhân thương mại và chưa quy định trách nhiệm hình sự đối với công chức nước ngoài, công chức của tổ chức quốc tế công (FPO) khi nhận hối lộ tại Việt Nam. Tỷ lệ xử lý các đối tượng quốc tế này trong giai đoạn 2015-2022 tại các cơ quan tố tụng trong nước ghi nhận mức 0%, tạo ra lỗ hổng pháp lý trong bối cảnh dòng vốn đầu tư nước ngoài chiếm hơn 20% tổng vốn đầu tư toàn xã hội.

Thứ tư, thực tiễn xét xử cho thấy khoảng 25% các vụ án tham nhũng có biểu hiện của hành vi "hối lộ tạ ơn" – việc đưa và nhận lợi ích diễn ra sau khi công việc đã được giải quyết thuận lợi mà không có sự thỏa thuận, bàn bạc từ trước. Hiện tượng này hiện khó bị truy cứu trách nhiệm hình sự do không chứng minh được yếu tố thỏa thuận trước, dẫn đến nguy cơ bỏ lọt hành vi nguy hiểm.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các bất cập trên xuất phát từ sự khác biệt trong truyền thống lập pháp hình sự. Luật hình sự Việt Nam truyền thống đặt trọng tâm vào hậu quả vật chất định lượng và cấu thành tội phạm vật chất, trong khi Công ước UNCAC tiếp cận theo cấu thành tội phạm hình thức nhằm ngăn chặn nguy cơ tham nhũng từ sớm.

Kinh nghiệm từ Bộ luật Hình sự Trung Quốc và Liên bang Nga cho thấy các nước này đã mở rộng mức phạt tiền lên gấp 2 đến 5 lần giá trị tài sản hối lộ và xem hành vi hối lộ thương mại là tội phạm nghiêm trọng.

Mức độ tương thích giữa Bộ luật Hình sự Việt Nam và Công ước UNCAC có thể được trực quan hóa qua biểu đồ cột thể hiện 4 tiêu chí cốt lõi:

  • Tiêu chí Hành vi khách quan đạt mức độ tương thích 65%;
  • Tiêu chí Đối tượng của hối lộ đạt 75%;
  • Tiêu chí Phạm vi chủ thể đạt 50%;
  • Tiêu chí Trách nhiệm hình sự của pháp nhân đạt 0%.

Bên cạnh đó, việc lập bảng so sánh mức chế tài giữa các quốc gia làm nổi bật sự cần thiết phải tăng cường hình phạt tiền bổ sung từ mức 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hiện nay lên các mức phạt gắn liền với tỷ lệ phần trăm tài sản tham nhũng nhằm triệt tiêu hoàn toàn động cơ kinh tế của tội phạm.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thành viên Công ước và đáp ứng yêu cầu phòng chống tham nhũng, nghiên cứu đưa ra 4 nhóm giải pháp cụ thể:

  1. Sửa đổi, hoàn thiện mặt khách quan tại Điều 354, Điều 364 và Điều 365 Bộ luật Hình sự: Bổ sung các hành vi "hứa hẹn, chào mời, đề nghị" vào cấu thành tội đưa hối lộ và hành vi "đòi hỏi, yêu cầu" vào tội nhận hối lộ. Mục tiêu nâng tỷ lệ tương thích hành vi với Công ước lên 100% trong giai đoạn lập pháp 2024-2026. Cơ quan chủ trì: Quốc hội, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp.

  2. Hoàn thiện quy định về của hối lộ và hình sự hóa hành vi "hối lộ tạ ơn": Bổ sung khoản 8 Điều 364 và khoản tương ứng tại Điều 354 quy định xử lý người đưa, nhận lợi ích vật chất trị giá từ 2.000.000 đồng trở lên sau khi công việc đã được thực hiện dù không có thỏa thuận trước. Ban hành Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn chi tiết việc chứng minh lợi ích phi vật chất trước quý IV năm 2024. Cơ quan thực hiện: Tòa án nhân dân tối cao.

  3. Mở rộng chủ thể và quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại đối với tội đưa hối lộ: Đưa pháp nhân thương mại vào diện chủ thể của Tội đưa hối lộ tại Điều 364 với khung hình phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 20.000.000.000 đồng hoặc phạt gấp 2 đến 5 lần giá trị của hối lộ. Lộ trình triển khai trong lần sửa đổi toàn diện Bộ luật Hình sự giai đoạn 2025-2028. Cơ quan thực hiện: Ban Nội chính Trung ương, Bộ Công an, Bộ Tư pháp.

  4. Nâng cao năng lực tư pháp và hợp tác quốc tế: Tổ chức tập huấn chuyên sâu về kỹ năng điều tra dòng tiền và chứng minh lợi ích phi vật chất cho 100% điều tra viên, kiểm sát viên và thẩm phán phụ trách án kinh tế, chức vụ đến năm 2025; hoàn thiện 100% các hiệp định tương trợ tư pháp hình sự song phương với các quốc gia đối tác lớn nhằm phục vụ công tác dẫn độ và thu hồi tài sản tham nhũng tẩu tán ra nước ngoài. Cơ quan thực hiện: Bộ Ngoại giao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung nghiên cứu mang giá trị ứng dụng thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng sau:

  1. Cơ quan lập pháp và cơ quan tham mưu chính sách: Các đại biểu Quốc hội, chuyên gia pháp lý tại Bộ Tư pháp, Ban Nội chính Trung ương và Viện Kiểm sát nhân dân tối cao sử dụng các luận cứ khoa học cùng bản dự thảo đề xuất sửa đổi 3 điều luật (Điều 354, 364, 365) để phục vụ xây dựng luật.

  2. Cán bộ tiến hành tố tụng: Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán các cấp áp dụng bộ 5 tiêu chí nhận diện hành vi hối lộ phức tạp và phương pháp xác định lợi ích phi vật chất vào công tác giải quyết các đại án tham nhũng, kinh tế.

  3. Cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học: Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự sử dụng hệ thống hơn 35 tài liệu tham khảo trong nước, quốc tế và phương pháp so sánh luật học làm tư liệu giảng dạy, học tập chuyên sâu.

  4. Doanh nghiệp và luật sư tư vấn tuân thủ: Các luật sư, giám đốc pháp chế (General Counsel) và cán bộ tuân thủ (Compliance Officer) tại các doanh nghiệp trong và ngoài nước tham khảo hơn 20 tình huống thực tế để thiết lập hệ thống kiểm soát nội bộ, phòng ngừa rủi ro vi phạm pháp luật về hối lộ trong kinh doanh.

Câu hỏi thường gặp

  1. Điểm khác biệt lớn nhất giữa quy định của Công ước UNCAC và Bộ luật Hình sự Việt Nam về hành vi hối lộ là gì? Điểm khác biệt cốt lõi nằm ở phạm vi hành vi khách quan và cách tiếp cận cấu thành tội phạm. Công ước UNCAC hình sự hóa các hành vi mang tính chuẩn bị như "hứa hẹn", "chào mời", "đòi hỏi" theo cấu thành hình thức, trong khi Bộ luật Hình sự Việt Nam vẫn tập trung vào các hành vi "đã đưa/sẽ đưa", "nhận/sẽ nhận" gắn với mức định lượng từ 2.000.000 đồng trở lên.

  2. Tại sao cần phải xử lý hình sự đối với hành vi hối lộ sau khi đã hoàn thành công việc dù không có thỏa thuận trước? Trong thực tế, khoảng 25% các vụ việc tiêu cực diễn ra dưới dạng "quà cảm ơn" sau khi cán bộ giải quyết xong thủ tục. Dù không có thỏa thuận trước, hành vi này vẫn mang bản chất vụ lợi, làm biến tướng hoạt động công vụ và tạo ra văn hóa "lại quả" ngầm, đòi hỏi phải được xử lý hình sự theo khoản 8 dự thảo sửa đổi Điều 364.

  3. Làm thế nào để định lượng và xử lý lợi ích phi vật chất trong các vụ án hối lộ? Bộ luật Hình sự năm 2015 đã bổ sung "lợi ích phi vật chất" nhưng chưa có hướng dẫn chi tiết. Thực tiễn áp dụng Nghị quyết số 03/2020/NQ-HĐTP cho thấy các cơ quan tố tụng cần dựa trên các bằng chứng số, tài liệu trao đổi và sự thỏa thuận ngầm về việc thăng quan, cấp quyền, dịch vụ du lịch nhằm xác định mối quan hệ nhân quả với hành vi lạm dụng chức vụ.

  4. Doanh nghiệp ngoài nhà nước có bị xử lý về tội nhận hối lộ theo pháp luật hiện hành không? Có. Khoản 6 Điều 354 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định rõ người có chức vụ, quyền hạn trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài nhà nước mà nhận hối lộ đều bị xử lý theo khung hình phạt tương đương khu vực công, bảo đảm sự bình đẳng và minh bạch trong nền kinh tế thị trường.

  5. Việc quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân đối với tội đưa hối lộ mang lại lợi ích gì? Quy định này giúp ngăn chặn các tập đoàn, doanh nghiệp sử dụng ngân sách công ty để hối lộ nhằm giành gói thầu, nâng mức phạt tiền lên tới 20.000.000.000 đồng, đồng thời đáp ứng 100% khuyến nghị của Công ước UNCAC về việc ràng buộc trách nhiệm tổ chức trong các vụ việc tham nhũng thương mại.

Kết luận

  • Đề tài đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về nội luật hóa điều ước quốc tế và đánh giá chi tiết sự tương thích của Bộ luật Hình sự năm 2015 với Công ước UNCAC về các tội phạm hối lộ.
  • Nghiên cứu chỉ rõ các khoảng trống lập pháp về hành vi "hứa hẹn, chào mời", của hối lộ phi vật chất, chủ thể công chức quốc tế và trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại.
  • Hệ thống giải pháp đề xuất bao gồm sửa đổi Điều 354, Điều 364, Điều 365 Bộ luật Hình sự và ban hành nghị quyết hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
  • Lộ trình thực thi kiến nghị được xác định rõ nét theo hai giai đoạn: hoàn thiện văn bản dưới luật trong giai đoạn 2024-2025 và sửa đổi luật thực định trong giai đoạn 2025-2028.
  • Luận văn đóng góp nguồn tư liệu khoa học chuẩn xác, giàu giá trị thực tiễn phục vụ công tác lập pháp, đào tạo luật học và đấu tranh phòng chống tội phạm tham nhũng trong thời kỳ hội nhập sâu rộng.