mở đầu cho các bản Hiến pháp [32, tr. 9 Xu hướng lập hiến hiện đại ngày nay thường coi hiến pháp là một văn bản mang tính quy phạm chứ không chỉ thể hiện tính chính trị và tương quan chính trị, dễ dàng thay đổi theo sự biến động của cán cân quyền lực giữa các lực lượng chính trị. Các bản hiến pháp đã chứa đựng những quy phạm pháp lý điều chỉnh toàn bộ đời sống chính trị, kinh tế, xã hội của quốc gia, đồng thời là văn bản quy định hiệu lực của các văn bản khác trong hệ thống pháp luật [10, tr. Dưới góc độ quyền con người, Hiến pháp được các nhà chính trị và học giả coi là văn bản thể hiện rõ ràng nhất giá trị của con người trong một nhà nước.
Alexander Hamilton đã cho rằng: “Bản thân Hiến pháp, với ý nghĩa thực sự và mục đích hữu dụng thực sự, chính là một đạo luật về các quyền” [7, tr. Trong phạm vi của luận văn này, “Hiến pháp” - được hiểu theo hướng khái quát và chung nhất - “là đạo luật cơ bản của một quốc gia, dùng để xác định thể chế chính trị, cách thức tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước và bảo vệ các quyền con người, quyền công dân” [7, tr. Những đặc trưng cơ bản của Hiến pháp Hiến pháp có ba đặc trưng cơ bản là đặc trưng về mặt pháp lý, đặc trưng về mặt chính trị và đặc trưng về mặt tư tưởng. Đặc trưng về mặt pháp lý: Hiến pháp là Luật cơ bản của Nhà nước, có giá trị và vị trí pháp lý cao nhất, việc ban hành và sửa đổi phải tuân theo một trình tự đặc biệt [32, tr.
Các nguyên tắc và quy phạm của hiến pháp có vai trò định hướng, chi phối nội dung của các văn bản pháp luật khác, việc hình thành các văn bản pháp luật khác phải phù hợp với hiến pháp [10, tr. Quan niệm về tính chất “cơ bản”, phạm vi điều chỉnh của hiến pháp cũng có sự khác biệt. Theo quan niệm truyền thống coi hiến pháp là Luật cơ bản nên hiến pháp chỉ quy định những yếu tố mang tính “cơ bản nhất” của nhà nước là tổ chức bộ máy và các quyền con người, quyền công dân (như Hiến pháp Hoa Kỳ). Những bản Hiến pháp theo quan niệm này được gọi là Hiến pháp có phạm vi điều chỉnh hẹp.
Các bản Hiến pháp ra đời sau Thế chiến thứ I và đặc biệt sau Thế chiến thứ II thường có phạm vi điều chỉnh rộng hơn. Ngoài quy định về tổ chức bộ máy và các 10 quyền con người, quyền công dân, hiến pháp còn điều chỉnh những khía cạnh quan trọng khác của quốc gia như các vấn đề về kinh tế, sở hữu, đất đai, lao động,. Đối với Hiến pháp các nước xã hội chủ nghĩa, những vấn đề này có tầm quan trọng đặc biệt vì liên quan trực tiếp đến mục tiêu và quá trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới tại các quốc gia này. Về quá trình lập hiến: một bản Hiến pháp từ khi bắt đầu lên kế hoạch thực hiện cho đến khi được thông qua phải trải qua một quá trình làm việc phức tạp và lâu dài, tiêu tốn nhiều công sức của nhà nước và xã hội.
Bởi vì là văn bản có “tính pháp lý cao nhất” nên mọi tư tưởng, nội dung và ngôn từ trong một bản Hiến pháp phải được xem xét, gọt dũa cẩn thận để xứng đáng là “gốc” của mọi đạo luật khác. Hiến pháp cũng là đạo luật không thể tuỳ tiện thay đổi mà phải có giá trị sử dụng lâu dài, xét cả về vai trò và ý nghĩa quan trọng của nó cũng như mức độ tốn kém của xã hội để tạo ra bản Hiến pháp ấy. Tuy nhiên do sự thay đổi không ngừng của dòng chảy lịch sử và đời sống chính trị các nước nên hiến pháp luôn phải thay đổi để phù hợp với xu thế. Những thay đổi này đôi khi chỉ là một số điều khoản bổ sung và thay thế mà không làm thay đổi hoàn toàn tính chất và mô hình của hiến pháp như các Tu chính án trong Hiến pháp Hoa Kỳ, cũng có khi là sự thay đổi liên tục như Hiến pháp một số nước Đông Bắc Á (Đài Loan, Hàn Quốc) do quá trình chuyển đổi ở các quốc gia này trong những năm 80 - 90 thế kỷ XX.
Có những quốc gia lại không quá nặng nề với việc sửa đổi hiến pháp, nên quá trình này diễn ra liên tục mỗi khi có lãnh đạo mới, ví dụ như Venezuela, từ năm 1811 đến nay đã có 40 lần ban hành Hiến pháp mặc dù nội dung hiến pháp ít có gì mới [32, tr. Đặc trưng về mặt chính trị: Hiến pháp phản ánh tính chất của những quan hệ được hiến pháp điều chỉnh. Tính chất chính trị của hiến pháp phụ thuộc trước hết vào đặc điểm của đường lối chính trị, đặc điểm của hệ thống chính trị và tổ chức của quyền lực nhà nước tại các quốc gia [32, tr. Ngoài ra, các yếu tố khác như vai trò và năng lực của các đảng phái, các tổ chức xã hội dân sự cũng có ảnh hưởng lớn đến tính chất chính trị của hiến pháp.
Sự chuyển biến của hiến pháp luôn phụ thuộc vào sự chuyển biến của nền chính trị. Nhìn vào sự thay đổi của hiến pháp, người ta có thể nhìn thấy được sự thay đổi về chính trị của một quốc gia diễn ra như 11 thế nào. Bản Hiến pháp Hoa Kỳ năm 1787 đã tồn tại hơn 200 năm cho đến nay những vẫn chưa có một sự thay đổi đáng kể gì, đã thể hiện tính ổn định rất cao của hệ thống chính trị của Hoa Kỳ mà ít quốc gia nào có được. Đặc trưng về mặt tư tưởng: Nội dung của một bản Hiến pháp đều mang trong nó một hệ tư tưởng nhất định.
Tính tư tưởng đó được thể hiện thông qua các nguyên tắc được hiến pháp ghi nhận, trong những quy phạm mang tính định hướng mục tiêu và cương lĩnh, thậm chí hiến pháp xác định một cách rõ ràng một hệ tư tưởng chủ đạo. Điều này thấy rõ nhất ở hiến pháp các nước xã hội chủ nghĩa, trong đó có Việt Nam. Các nước này đều dựa trên một hệ tư tưởng thống nhất, mặc dù cũng có một vài biến thể (chủ nghĩa Mao, thuyết chủ thể Juche) nhưng cơ bản đều lấy nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin làm giá trị cốt lõi khi xây dựng nhà nước và hiến pháp của mình. Hiến pháp của các nước xã hội chủ nghĩa thường ghi nhận một cách trang trọng hệ tư tưởng của mình vào ngay lời nói đầu, và trong những chương tiếp theo, tư tưởng ấy tiếp tục thể hiện tính dẫn dắt qua cách thức tổ chức bộ máy nhà nước, quy định về quản lý kinh tế - xã hội,.
Hiến pháp các nước khác như Hoa Kỳ và châu Âu thường không xác định rõ ràng hệ tư tưởng của nó là gì, nhưng thông qua các ý niệm rải rác được cài vào các quy phạm, người ta vẫn có thể nhận ra hệ tư tưởng của nó, đó là chủ quyền nhân dân, quyền con người và chế độ cộng hoà [32, tr. Sự phát triển và một số quan niệm về dân chủ Trong cuộc đời mỗi con người, chúng ta luôn là thành viên của một tổ chức hoặc thiết chế nào đó, đó có thể là gia đình, làng xã, hội nhóm, nhà nước,. Khi tập thể đưa ra một quyết định, nó sẽ có tác động đến tất cả các thành viên trong đó. Vì vậy, quyết định đó cần được bàn bạc và có sự tham gia của tất cả các thành viên với quyền ngang nhau.
Quyết định chung của tập thể như vậy được gọi là dân chủ. Từ thời kỳ sơ khai của xã hội loài người, những biểu hiện về dân chủ đã manh nha xuất hiện trong rất nhiều xã hội khác nhau. Những biểu hiện này bắt nguồn từ nhu cầu trao đổi, giúp đỡ và học hỏi kinh nghiệm giữa con người với con 12 người. Tuy nhiên, dân chủ thời kỳ này còn mang tính sơ khai thông qua các ý niệm và các dạng thực hành cơ bản, rõ rệt nhất là hoạt động bầu chọn các thủ lĩnh bộ lạc và hội họp để thảo luận một số công việc chung của cộng đồng.
Dân chủ (tiếng anh - democracy) chỉ thực sự có tên gọi chính thức từ thời kỳ Hi Lạp cổ đại và để chỉ hệ thống chính trị của các thành bang cho phép người dân ở đó được đi bỏ phiếu. Dân chủ có ý nghĩa sơ khai là “sự cai trị của nhân dân”. Đối nghịch với nó là “quân chủ” với nghĩa là “sự cai trị của nhà vua”. Thuật ngữ “dân chủ” cho đến nay đã trải qua lịch sử hơn hai nghìn năm tồn tại với nhiều quan niệm và định nghĩa tùy thuộc vào mỗi thời kỳ và từng xã hội.
Trong thời kỳ phong kiến chuyên chế, khái niệm “dân chủ” gần như bị lãng quên để nhường chỗ cho sự chuyên chế của các ông vua và lãnh chúa, “dân chủ” sau đó được sống lại khi chế độ phong kiến suy yếu. Sau các cuộc cách mạng (còn gọi là cách mạng tư sản) tại nhiều nước châu Âu (Hà Lan, Anh, Pháp), dân chủ trở thành một trong những giá trị cốt lõi của các nhà nước mới được thành lập. Chỉ trong vòng ba thế kỷ, từ thế kỷ 18 – 20, tình hình thế giới đã có chuyển biến không ngừng, làm thay đổi sâu sắc, căn bản các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội của loài người từ dạng này sang dạng khác. Điều này đã thúc đẩy các nhà triết học – chính trị (chủ yếu là phương tây) bổ sung, xây dựng và phát triển các trường phái và thế giới quan mới để giải thích về con người và thế giới, trong đó có các lý thuyết về dân chủ.
Về cơ bản, các lý thuyết này đều tiếp cận dân chủ ở ba khuynh hướng chính gồm: dân chủ là sự tham gia, dân chủ là sự cạnh tranh và dân chủ là sự cân bằng. Thứ nhất, quan niệm về dân chủ tốt cho rằng: Dân chủ là việc bảo đảm sự tham gia tự do của các công dân vào đời sống chính trị, con người chỉ tự do khi họ có thể thực sự bầu chọn ra người lãnh đạo và thảo luận để xây dựng pháp luật. Thứ hai, xuất phát từ quan niệm khá tiêu cực về con người đại chúng, Dân chủ được định nghĩa: là sự hiện diện của các cuộc bầu cử cạnh tranh, công bằng, bầu cử có ý nghĩa kiểm soát giới tinh hoa khi họ cạnh tranh với nhau giành các vị trí công quyền.