Luận văn thạc sĩ luật đầu tư cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư trong evfta thuận lợi và thách thức đối với việt nam

Luận văn thạc sĩ luật học nghiên cứu luật đầu tư cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư trong evfta thuận lợi và thách thức đối với việt nam, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên

Chuyên ngành

Luật kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2019

82
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế

Cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế (ISDS) là một phần quan trọng trong luật đầu tư quốc tế. Nó cho phép nhà đầu tư nước ngoài khởi kiện nhà nước tiếp nhận đầu tư ra trọng tài quốc tế. Điều này tạo ra một cơ chế bảo vệ quyền lợi cho nhà đầu tư, đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức cho các quốc gia tiếp nhận đầu tư. ISDS thường được thực hiện thông qua hai hình thức chính: trọng tài ICSID và trọng tài ad-hoc theo quy tắc UNCITRAL. Sự độc lập và khách quan của trọng tài viên là yếu tố quyết định đến tính công bằng của quá trình giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, cơ chế này cũng gặp phải nhiều chỉ trích, đặc biệt là về khả năng nhà đầu tư trục lợi và sự thiếu minh bạch trong quy trình tố tụng.

1.1 Khái niệm và đặc điểm của tranh chấp đầu tư quốc tế

Tranh chấp đầu tư quốc tế thường phát sinh khi nhà đầu tư nước ngoài cho rằng quyền lợi của họ bị xâm phạm bởi các hành động của nhà nước tiếp nhận đầu tư. Đặc điểm của tranh chấp này là nhà đầu tư có quyền khởi kiện mà không cần thông qua hệ thống tòa án của quốc gia tiếp nhận. Điều này tạo ra một sự bất cân xứng trong quyền lợi giữa nhà đầu tư và nhà nước, dẫn đến những lo ngại về việc nhà nước có thể bị áp lực trong việc điều chỉnh chính sách.

1.2 Vai trò của ISDS trong việc bảo vệ nhà đầu tư

ISDS đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư nước ngoài. Nó giúp tạo ra một môi trường đầu tư ổn định và hấp dẫn cho các nhà đầu tư. Tuy nhiên, sự ưu đãi này cũng có thể dẫn đến việc nhà đầu tư lạm dụng quyền khởi kiện, gây khó khăn cho các quốc gia trong việc thực hiện quyền điều chỉnh chính sách. Điều này đặt ra câu hỏi về sự cân bằng giữa bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư và quyền điều chỉnh của nhà nước.

II. Nội dung cơ bản của cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư trong EVFTA

Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) đã quy định một cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư mới, nhằm cải thiện tính minh bạch và công bằng trong quá trình giải quyết tranh chấp. Cơ chế này bao gồm các quy định về phạm vi áp dụng, cơ quan tài phán, và trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp. Đặc biệt, EVFTA đã thiết lập Hội đồng tài phán về đầu tư, với mục tiêu nâng cao chất lượng phán quyết và đảm bảo quyền lợi cho cả nhà đầu tư và nhà nước. Tuy nhiên, việc thực hiện cơ chế này cũng gặp phải nhiều thách thức, đặc biệt là trong việc đào tạo nguồn nhân lực và xây dựng quy trình tố tụng minh bạch.

2.1 Phạm vi áp dụng của cơ chế giải quyết tranh chấp

Cơ chế giải quyết tranh chấp trong EVFTA áp dụng cho các tranh chấp phát sinh giữa nhà đầu tư và nhà nước tiếp nhận đầu tư. Phạm vi này bao gồm cả các khoản đầu tư được bảo vệ và các nhà đầu tư đủ điều kiện. Điều này giúp đảm bảo rằng tất cả các bên liên quan đều có quyền lợi được bảo vệ trong quá trình giải quyết tranh chấp.

2.2 Quy trình và thủ tục giải quyết tranh chấp

Quy trình giải quyết tranh chấp trong EVFTA được thiết kế để đảm bảo tính minh bạch và công bằng. Các bên có thể lựa chọn quy tắc tố tụng phù hợp, và quy trình này bao gồm các bước rõ ràng từ khởi kiện đến thi hành phán quyết. Điều này không chỉ giúp tăng cường sự tin tưởng của nhà đầu tư mà còn tạo điều kiện cho nhà nước thực hiện quyền điều chỉnh chính sách một cách hiệu quả.

III. Đánh giá cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư trong EVFTA và khuyến nghị đối với Việt Nam

Cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư trong EVFTA mang lại nhiều thuận lợi cho Việt Nam, như giảm khả năng nhà đầu tư trục lợi và tăng cường tính minh bạch trong tố tụng. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý đến những nhược điểm như đạo đức của thành viên Hội đồng tài phán và nguy cơ chính trị hóa tranh chấp đầu tư. Để tối ưu hóa hiệu quả của cơ chế này, Việt Nam cần rà soát và cải thiện quy trình đào tạo nguồn nhân lực, đồng thời làm rõ các nội dung chưa cụ thể trong EVFTA.

3.1 Ưu điểm của cơ chế ISDS trong EVFTA

Cơ chế ISDS trong EVFTA giúp giảm thiểu khả năng nhà đầu tư trục lợi thông qua việc thiết lập các tiêu chuẩn rõ ràng cho thành viên Hội đồng tài phán. Tính độc lập và công bằng của các thành viên cũng được nâng cao, tạo điều kiện cho việc giải quyết tranh chấp một cách hiệu quả và công bằng hơn. Điều này không chỉ bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư mà còn đảm bảo quyền điều chỉnh chính sách của nhà nước.

3.2 Nhược điểm và khuyến nghị

Mặc dù có nhiều ưu điểm, cơ chế ISDS trong EVFTA cũng tồn tại một số nhược điểm, như thiếu quy tắc tố tụng riêng và nguy cơ chính trị hóa tranh chấp đầu tư. Để khắc phục những vấn đề này, Việt Nam cần làm rõ các nội dung chưa cụ thể trong EVFTA và tăng cường đào tạo nguồn nhân lực tham gia giải quyết tranh chấp. Việc này sẽ giúp nâng cao hiệu quả của cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư trong tương lai.

01/03/2025
Luận văn thạc sĩ luật đầu tư cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư trong evfta thuận lợi và thách thức đối với việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 của Luận văn sẽ trình bày khái quát về ISDS truyền thống, hạn chế của các cơ chế này và từ đó chứng minh sự cần thiết của một cơ chế mới “Hội đồng tài phán về đầu tư” trong EVFTA. Khái quát về đầu tư quốc tế 1. Khái niệm đầu tư quốc tế Để hiểu khái niệm đầu tư quốc tế, trước tiên cần hiểu khái niệm đầu tư. Dưới góc độ kinh tế, Giáo trình Đầu tư nước ngoài của Trường Đại học Ngoại thương giảng rằng đầu tư là “quá trình huy động và sử dụng mọi nguồn vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh nhằm sản xuất sản phẩm hay cung cấp dịch vụ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của cá nhân và xã hội” (Vũ Chí Lộc, 1997, tr.

Từ điển Black’s Law cũng định nghĩa hoạt động đầu tư là “việc bỏ ra của cải vật chất nhằm mục đích làm tăng giá trị tài sản hay tìm kiếm lợi nhuận” (Henry Campbell Black, M. Trên cơ sở so sánh luật, Giáo trình Luật Đầu tư quốc tế cho rằng “đầu tư quốc tế là việc huy động một nguồn lực trong một khoảng thời gian nhất định để tạo lợi nhuận trong tương lai” (Hanoi Law University, 2017, tr. Như vậy, hoạt động đầu tư dù được định nghĩa theo các cách khác nhau đều có điểm chung là một hoạt động vì lợi nhận. Quan hệ đầu tư phát sinh giữa bên đầu có thế để khởi kiện Chính phủ Việt Nam.

Rất may, trong vụ việc này, Việt Nam đã lập luận thành công rằng Hội đồng trọng tài không có thẩm quyền giải quyết vụ kiện này vì: (i) Không có tranh chấp đầu tư giữa ông McKenzie và Chính phủ Việt Nam; (ii) Ông McKenzie và khoản đầu tư của ông ta không đủ điều kiện để được bảo hộ theo BTA; (iii) Ông McKenzie đã vi phạm giấy phép đầu tư và pháp luật Việt Nam; (iv) Việt Nam không vi phạm BTA Việt Nam – Hoa Kỳ. 13 tư và bên nhận đầu tư, do đó có thể phát sinh theo chiều ngang giữa các nhà đầu tư với nhau, và theo chiều dọc giữa nhà đầu tư và cơ quan quản lí nhà nước về đầu tư. Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, đầu tư kinh doanh được hiểu là “việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư” (khoản 5 Điều 3 Luật Đầu tư năm 2014). Mặc dù định nghĩa này không trực tiếp nhắc đến mục đích của đầu tư, nhưng yếu tố “vì lợi nhuận” được thể hiện ngầm thông qua khái niệm “hoạt động kinh doanh”.

Mà hoạt động kinh doanh theo pháp luật Việt Nam là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi5. Nhà đầu tư có thể là thể nhân (cá nhân) hoặc pháp nhân (tổ chức). Các cá nhân, tổ chức đó có thể là cá nhân, tổ chức có quốc tịch Việt Nam và cá nhân, tổ chức nước ngoài (khoản 13, 14, 15 Điều 3 Luật Đầu tư năm 2014). Để đưởng hưởng sự bảo vệ của các hiệp định về đầu tư cá nhân, tổ chức phải có quốc tịch của Quốc gia mà mình có quốc tịch.

Như vậy, xác định được quốc tịch của nhà đầu tư có ý nghĩa quan trọng. Thông thường, mỗi quốc gia đều có các quy định riêng để xác định quốc tịch của chủ thể. Ở Việt Nam, quốc tịch của chủ thể tham gia các quan hệ tư được quy định trong khá nhiều văn bản khác nhau, như Bộ luật dân sự, Luật Quốc tịch, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư. Đối với cá nhân, sẽ được coi là “người nước ngoài” nếu cá nhân đó không có quốc tịch Việt Nam (khoản 1, Điều 3 Luật Quốc tịch năm 2008).

Điều này có nghĩa là một cá nhân vừa có quốc tịch Việt Nam vừa có quốc tịch nước ngoài thì cá nhân đó không được coi là người nước ngoài và năng lực dân sự cũng như năng lực hành vi của cá nhân đó sẽ được xác định theo pháp luật Việt Nam (khoản 2 Điều 672 Bộ luật Dân sự năm 2015). Liên quan đến pháp nhân, quốc tịch phải được xác định theo “pháp luật của nước nơi pháp nhân thành lập” (khoản 1, Điều 676 Bộ luật Dân sự năm 2015). 5 Khoản 16, Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định: “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình, đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”. 14 Khái niệm đầu tư cũng thường được định nghĩa bởi các hiệp định về đầu tư hoặc các hiệp định kinh tế, thương mại có nội dung về đầu tư (từ nay viết tắt theo tiếng Anh là IIA – International investment Agreement), nhưng theo các cách khác nhau và có thể chia thành hai nhóm.

Nhóm thứ nhất là các hiệp định có đối tượng là việc dịch chuyển vốn và nguồn lực qua biên giới. Trong nhóm này, khái niệm “đầu tư” thường được định nghĩa rất hạn chế, trong đó nội dung chính là cơ chế kiểm soát doanh nghiệp. Nhóm thứ hai gồm các IIA hướng tới mục tiêu bảo hộ đầu tư, định nghĩa đầu tư theo nghĩa rộng và khái quát hơn, dựa trên yếu tố tài sản, bao gồm không chỉ các khoản vốn dịch chuyển qua biên giới, mà còn cả các loại tài sản khác (Hanoi Law University, 2017, tr. Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) định nghĩa “đầu tư” theo nghĩa rất rộng, bao gồm “mọi tài sản do nhà đầu tư sở hữu hoặc kiểm soát trực tiếp hoặc gián tiếp, có đặc điểm đầu tư, bao gồm các đặc điểm như cam kết về vốn đầu tư hoặc các nguồn lực khác, kỳ vọng về lợi nhuận, hoặc gánh chịu rủi ro.

Các hình thức đầu tư có thể bao gồm: (a) doanh nghiệp; (b) cổ phiếu, cổ phần và các hình thức góp vốn vào doanh nghiệp; (c) trái phiếu, các công cụ nợ khác, và các khoản cho vay; (d) hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn và các sản phẩm tài chính phái sinh khác; (e) hợp đồng chìa khoá trao tay, xây dựng, quản lý, sản xuất, nhượng quyền, phân chia doanh thu và các hợp đồng tương tự khác; (f) quyền sở hữu trí tuệ; (g) giấy phép, chấp thuận, cho phép, và các quyền tương tự hình thành trên cơ sở quy định pháp luật một Bên; và (h) các tài sản hữu hình hoặc vô hình, động sản hoặc bất động sản, và quyền tài sản liên quan, như cho thuê, cầm cố, cầm giữ và thế chấp; nhưng đầu tư không có nghĩa là lệnh hoặc phán quyết theo thủ tục hành chính hoặc tư pháp (Điều 9. EVFTA có một Chương về Đầu tư và giải quyết tranh chấp về đầu tư (với tiêu đề Thương mại dịch vụ, đầu tư và thương mại điện tử), nhưng không có một điều khoản chuyên biệt định nghĩa thế nào là “đầu tư” mà chỉ có các quy định giúp hiểu rõ hơn về nhà đầu tư và khoản đầu tư được bảo hộ, thông qua các định nghĩa về “thể nhân”, “pháp nhân” (thuộc mỗi bên), “pháp nhân thuộc sở hữu của…”, “pháp nhân bị kiểm soát bởi…”, “các hoạt động kinh tế”, “khai thác các dự án đầu tư”, 15 “cung cấp dịch vụ xuyên biên giới”, “các hình thức đầu tư”, “nhà đầu tư”… Đặc biệt, EVFTA có định nghĩa về “vốn/dự án đầu tư”, bao gồm “bất kỳ loại tài sản nào do các nhà đầu tư của một Bên đang hoạt động trong lãnh thổ của Bên kia trực tiếp hay gián tiếp sở hữu và quản lý mà mang đặc điểm của một hoạt động đầu tư, bao gồm những đặc điểm như có cam kết về vốn hoặc nguồn lực khác, kỳ vọng về mức doanh thu hay lợi nhuận, việc chịu trách nhiệm với các rủi ro và được thực hiện trong thời hạn nhất định. Đối tượng của đầu tư có thể bao gồm: (i) tài sản hữu hình hoặc vô hình, tài sản di động hoặc bất động cũng như các quyền khác có liên quan đến các tài sản như tài sản cho thuê, thế chấp, cầm cố và bảo lãnh; (ii) doanh nghiệp, cổ phần, cổ phiếu và các hình thức góp vốn khác vào một doanh nghiệp, kể cả các quyền phát sinh tương ứng; (iii) trái phiếu, tín phiếu, các khoản vay và các công cụ nợ khác, kể cả các quyền phát sinh tương ứng; (iv) chìa khóa trao tay, xây dựng, quản lý, sản xuất, nhượng quyền, chia sẻ doanh thu và các hợp đồng tương tự khác; (v) quyền yêu cầu trả tiền hoặc tài sản khác hoặc quyền yêu cầu phải thực hiện hợp đồng có giá trị kinh tế”. Như vậy, cũng giống như CPTPP, “đầu tư” trong EVFTA cũng được hiểu theo nghĩa rất rộng và các tranh chấp phát sinh từ các nội dung nêu trên đều có thể trở thành “tranh chấp đầu tư” và có thể được giải quyết thông qua cơ chế Hội đồng tài phán về đầu tư.

Khái niệm nhà đầu tư và khoản đầu tư được bảo hộ Thông thường, các quy định về ưu đãi và bảo hộ đầu tư (trong đó có quy định về giải quyết tranh chấp) trong các hiệp định về đầu tư sẽ được áp dụng đối với các chủ thể có quốc tịch của Quốc gia thành viên. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng không phải mọi chủ thể có quốc tịch của Quốc gia thành viên của Hiệp định về đầu tư đều được bảo vệ. Ngoài ra, ngay cả khi trở thành “nhà đầu tư” được bảo vệ rồi thì còn phải thỏa mãn tiêu chí “khoản đầu tư được bảo vệ”. Thông thường, các hiệp định về đầu tư có các quy định về vấn đề này.

Cụ thể, Khoản 1, Điều 9.15, Hiệp định Thương mại Việt Nam Hàn Quốc, quy định “Phần này [Giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư và một Bên ký kết] sẽ áp dụng đối với 16 các tranh chấp đầu tư giữa một Bên ký kết và nhà đầu tư của một Bên ký kết kia liên quan đến việc khởi kiện Bên ký kết ban đầu vi phạm nghĩa vụ theo Phần A, […] và việc vi phạm nghĩa vụ này phải gây thiệt hại cho: (a) nhà đầu tư liên quan đến khoản đầu tư được bảo hộ; hoặc (b) “khoản đầu tư được bảo hộ đã được thực hiện bởi nhà đầu tư đó, liên quan đến việc quản lý, thực hiện, vận hành hoặc bán hoặc định đoạt theo cách khác khoản đầu tư được bảo hộ”. Nhà đầu tư được bảo vệ và khoản đầu tư được bảo vệ được làm rõ hơn tại Điều 9.1 và đặc biệt Điều 9.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Luận Văn Thạc Sĩ Luật Đầu Tư: Cơ Chế Giải Quyết Tranh Chấp Đầu Tư Trong EVFTA - Thuận Lợi Và Thách Thức Đối Với Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư trong khuôn khổ Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - EU (EVFTA). Tác giả phân tích những thuận lợi mà hiệp định này mang lại cho Việt Nam, đồng thời chỉ ra những thách thức mà quốc gia phải đối mặt trong việc thực thi các quy định về đầu tư. Tài liệu không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về các vấn đề pháp lý liên quan đến đầu tư mà còn mở ra những cơ hội và rủi ro trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.

Để mở rộng kiến thức về đầu tư và chính sách liên quan, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn thạc sỹ kinh tế đẩy mạnh thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào hoạt động thăm dò khai thác dầu khí ở việt nam, nơi đề cập đến các biện pháp thu hút đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực dầu khí. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ giải pháp huy động vốn đầu tư nâng cao tiêu chí xây dựng nông thôn mới thành phố sông công sẽ cung cấp cái nhìn về cách huy động vốn đầu tư cho phát triển nông thôn. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ kiểm nghiệm các nhân tố tác động đến đầu tư trực tiếp nước ngoài tại các tỉnh thành của việt nam, giúp bạn nắm bắt các yếu tố ảnh hưởng đến đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về bối cảnh đầu tư hiện tại và các chính sách liên quan.