Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm nông thôn và nông thôn mới - Nông thôn là khái niệm dùng để chỉ một địa bàn mà ở đó sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn, nông thôn có thể được xem xét trên nhiều góc độ kinh tế, chính trị, văn hóa.nông thôn không đơn thuần là khu vực xã hội và cũng là khu vực kinh tế, kinh tế nông nghiệp trong địa bàn nông thôn ngoài nông nghiệp cũng có công nghiệp dịch vụ thường gọi là các hoạt động phi nông nghiệp.
Việc phát triển kinh tế nông thôn, từng bước xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ trọng tâm của Đảng và Nhà nước ta hiện nay. - Nông thôn mới: Trong Nghị quyết số 26-NQ/TW đưa ra mục tiêu: "Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giầu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường". Như vậy, nông thôn mới trước tiên nó phải là nông thôn không phải là thị tứ, thị trấn, thị xã, thành phố và khác với nông thôn truyền thống hiện nay, có thể khái quát gọn theo năm nội dung cơ bản sau: (1) làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại; (2) sản xuất phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hóa; (3) đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; (4) bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát triển; (5) xã hội thôn nông an ninh tốt, quản lý dân chủ. Khái niệm nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới Nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới được hiểu là tập hợp các yếu tố mà chương trình xây dựng nông thôn mới sử dụng để thực hiện các mục tiêu của chương trình.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 5 - Theo quan điểm hệ thống, “Nguồn lực là tất cả những yếu tố và phương tiện mà hệ thống có quyền chi phối, điều khiển, sử dụng để thực hiện mục tiêu của mình. Đối với hệ thống kinh tế - xã hội, có thể chia nguồn lực ra các bộ phận khác nhau như: nguồn nhân lực, nguồn tài lực, nguồn vật lực và nguồn thông tin”. - Những thứ được coi là nguồn lực phải là những thứ được sử dụng hoặc có khả năng sử dụng trong thời kỳ dự kiến phát triển. Tiềm năng chưa đưa được vào sử dụng hoặc chưa có khả năng đưa vào sử dụng thì chưa được xem xét là nguồn lực.
Trong các nguồn lực thì nguồn nhân lực có va trò hết sức quan trọng. Có khá nhiều định nghĩa khác nhau về “nguồn nhân lực”: - Nguồn nhân lực là nguồn lực con người của những tổ chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, khu vực, thế giới. Cách hiểu này về nguồn nhân lực xuất phát từ quan niệm coi nguồn lực với các yếu tố vật chất, tinh thần tạo nên năng lực, sức mạnh phục vụ cho sự phát triển nói chung của tổ chức; (Nguyễn Phương, 2018) - Nguồn nhân lực là tổng thể các yếu tố bên trong và bên ngoài của mỗi cá nhân bảo đảm nguồn sáng tạo cùng các nội dung khác cho sự thành công, đạt được mục tiêu của tổ chức. Tuy có những định nghĩa khác nhau tùy theo giác độ tiếp cận nghiên cứu nhưng điểm chung mà ta có thể dễ dàng nhận thấy qua các định nghĩa trên vê nguồn nhân lực là: - Số lượng nhân lực: Nói đến nguồn nhân lực của bất kỳ một tổ chức, một địa phương hay một quốc gia nào câu hỏi đầu tiên đặt ra là có bao nhiêu người và sẽ có thêm bao nhiêu người nữa trong tương lai.
Đây là những câu hỏi cho việc xác định số lượng nguồn nhân lực. Sự phát triển về số lượng nguồn nhân lực dựa trên hai nhóm yếu tố bên trong (ví dụ: nhu cầu thực tế công việc đòi hỏi phải tăng số lượng lao động) và những yếu tố bên ngoài của tổ chức như sự gia tăng về dân số hay lực lượng lao động do di dân; - Chất lượng nhân lực: Chất lượng nhân lực là yếu tố tổng hợp của nhiều yếu tố bộ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 6 phận như trí tuệ, trình độ, sự hiểu biết, đạo đức, kỹ năng, sức khỏe, thẩm mỹ… của người lao động. Trong các yếu tố trên thì trí lực và thể lực là hai yếu tố quan trọng trong việc xem xét đánh giá chất lượng nguồn nhân lực; - Cơ cấu nhân lực: Cơ cấu nhân lực là yếu tố không thể thiếu khi xem xét đánh giá về nguồn nhân lực. Cơ cấu nhân lực thể hiện trên các phương diện khác nhau như cơ cấu trình độ đào tạo, giới tính, độ tuổi… Cơ cấu nguồn nhân lực của một quốc gia nói chung được quyết định bởi cơ cấu đào tạo và cơ cấu kinh tế theo đó sẽ có một tỷ lệ nhất định nhân lực.
(Lê Sỹ Thọ ,2016) Tóm lại, nguồn nhân lực là khái niệm tổng hợp bao gồm các yếu tố về số lượng, chất lượng và cơ cấu phát triển người lao động nói chung cả ở hiện tại cũng như trong tương lai, là tiềm năng của mỗi tổ chức, mỗi địa phương, mỗi quốc gia, khu vực và thế giới. Khái niệm vốn và huy động vốn cho xây dựng NTM Theo Paul. Samuelson và Wiliam D.Nordphaus: “Vốn là khái niệm thường dùng để chỉ các hàng hóa làm vốn nói chung, một nhân tố của sản xuất. Một hàng hóa làm vốn khác với nhân tố sơ yếu (đất đai, lao động) ở chỗ: nó là một đầu vào mà bản thân là một đầu ra của nền kinh tế gồm: vốn vật chất (nhà máy, thiết bị, kho tàng.), vốn tài chính”.
Theo quan điểm này, vốn gồm: vốn vật chất và vốn tài chính. Vốn là một khái niệm chung, cần được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm toàn bộ của cải vật chất (có thể được biểu hiện dưới dạng: đất đai, tài nguyên, tài sản, nhà xưởng, nguồn nhân lực, vàng hoặc tiền), được con người tích lũy lại trong một thời kỳ nhất định, được sử dụng trong quá trình cải biến nền kinh tế xã hội của loài người. Chương trình MTQG xây dựng NTM với mục tiêu tổng quát là: có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phù hợp; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn phát triển nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị; xã hội nông thôn dân chủ, bình đẳng, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; quốc phòng và an ninh, trật tự được giữ vững. Để đạt được mục tiêu đó phải thông qua hoạt động đầu tư vốn.
Do đó: Vốn đầu tư xây dựng NTM là tất cả các nguồn lực (của cải vật chất, sức lao động, tài nguyên thiên nhiên,.) được biểu hiện bằng tiền, được sử dụng để đầu tư thực hiện xây dựng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc. Các nguồn vốn đầu tư chủ yếu cho chương trình MTQG xây dựng NTM 1. Vốn ngân sách nhà nước - Vốn NSNN cho xây dựng NTM là các khoản chi của NSNN cho đầu tư xây dựng NTM. Vai trò của vốn NSNN đối với việc xây dựng NTM thể hiện ở chỗ: vốn NSNN đảm bảo cung cấp nguồn lực tài chính để xây dựng các tiêu chí mang tính cơ bản ở nông thôn.
Các tiêu chí gồm: Hệ thống giao thông liên huyện, liên xã; hệ thống thủy lợi: đập, trạm bơm, hồ chứa; hệ thống lưới điện nông thôn; hệ thống thông tin, viễn thông nông thôn; Hệ thống trường học, trạm y tế, nhà văn hóa từ cấp xã; Hệ thống cung cấp nước sạch nông thôn. - Vốn NSNN có vai trò tạo động lực để thu hút các nguồn vốn ngoài NSNN để xây dựng NTM, nó như là “vốn mồi” để kích thích sự tăng trưởng của các loại vốn khác.2 Vốn từ cộng đồng - Vốn từ cộng đồng bao gồm vốn của người dân, vốn đóng góp tự nguyện và tài trợ của các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. - Việc khai thác vốn này góp phần làm tăng tính chủ động, tích cực của cộng đồng dân cư nông thôn. Xây dựng NTM với mục mục đích hướng tới chủ thể là người dân ở khu vực nông thôn.
Do vậy việc huy động vốn từ cộng đồng sẽ góp phần tăng tính chủ động tích cực của những chủ thể thực sự của xây dựng NTM, từ đó tạo sức mạnh tổng hợp để thực hiện thành công chương trình.Vốn doanh nghiệp Vốn doanh nghiệp cho xây dựng NTM bao gồm vốn đầu tư của các DN trong và ngoài nước, nó đóng các vai trò: - Cung cấp thêm một kênh huy động vốn từ các DN trong và ngoài nước. - Góp phần làm giảm áp lực cho NSNN trong đầu tư các hạng mục cơ bản ở nông thôn. Lồng ghép các nguồn vốn đầu tư cho cho chương trình MTQG xây dựng NTM Lồng ghép các nguồn vốn đầu tư trong xây dựng NTM là việc huy động và sử dụng đồng thời các nguồn vốn để đầu tư xây dựng NTM. Điều này là rất cần thiết bởi Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 8 nếu chỉ dựa vào một loại nguồn vốn thì sẽ không thể đáp ứng được nhu cầu vốn đầu tư.
Mặt khác, như đã phân tích về đặc điểm của vốn đầu tư xây dựng NTM, đối tượng trực tiếp thụ hưởng kết quả sử dụng vốn đầu tư xây dựng NTM là người dân ở nông thôn. Do vậy, cần phải huy động và sử dụng nguồn vốn cộng đồng để phát huy sự tham gia của người dân, vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư trong xây dựng NTM. Mỗi nguồn vốn đầu tư có đặc điểm và vai trò nhất định. Sự kết hợp các nguồn vốn đầu tư một cách hợp lý sẽ phát huy được tối đa vai trò của từng nguồn vốn, tránh tình trạng chồng chéo trong huy động và sử dụng các nguồn vốn gây lãng phí, kém hiệu quả.
Mỗi nguồn vốn đầu tư có tiềm năng khai thác riêng.