Đặt vấn đề Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là thành phần quan trọng trong cơ cấu nền kinh tế của các quốc gia đang phát triển. Tại Việt Nam, sự ra đời của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 đã tạo điều kiện pháp lý thuận lợi cho việc thu hút dòng vốn đầu tư từ các quốc gia phát triển đến Việt Nam. Đến năm 2018, Việt Nam đã có tổng nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp phép là 36.368,60 triệu USD, đặc biệt năm 2008, sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), vốn đăng ký FDI cao với 71,7 tỷ USD, gấp 3 lần so với năm 2007. Trong giai đoạn 2005-2017, Việt Nam đã thu hút được trên 20.000 dự án, vốn đầu tư bình quân khoảng 7 triệu USD/dự án, Việt Nam đứng ở vị trí thứ 3 trong khu vực Đông Nam A trong việc thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài.
Sau 30 năm triển khai các chính sách thu hút đầu tư, FDI đã đem lại những giá trị tích cực cho nền kinh tế của Việt Nam nói chung cũng như các tỉnh thành ở Việt Nam nói riêng, đó là góp phần bổ sung nguồn vốn đáng kể cho tăng trưởng, chuyển giao công nghệ, tăng cường khả năng xuất khẩu cũng như tạo thêm nhiều việc làm và nâng cao mức sống cho người dân và đặc biệt là đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh và năng lực cạnh tranh quốc gia. Vì những lợi ích to lớn từ FDI mang đến, tôi quyết định chọn đề tài: “Kiểm nghiệm các nhân tố tác động đến đầu tư trực tiếp nước ngoài tại các tỉnh thành của Việt Nam”. Mục tiêu Mục tiêu của đề tài là nghiên cứu và đánh giá các nhân tố tác động đến tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài ở các tỉnh thành của Việt Nam, đồng thời nhấn mạnh vai trò của các nhân tố này đến việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài từ các nước phát triển vào các tỉnh thành của Việt Nam. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Luận văn sẽ tiến hành nghiên cứu và đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư trực tiếp nước ngoài tại 64 tỉnh thành của Việt Nam trong giai đoạn 2006 – 2017 thông qua các yếu tố: quy mô nền kinh tế, cơ sở hạ tầng, chi phí lao động, nhân tố lao động, nhân tố tích lũy và chỉ số rủi ro như chỉ số tính minh bạch.
Phương pháp nghiên cứu Bài nghiên cứu thực hiện kiểm định các giả thuyết nghiên cứu dựa trên việc phân tích dữ liệu bảng với các mô hình sau: mô hình Pooled OLS, mô hình Fixed Effects và mô hình Random Effects, sau đó sẽ dùng kiểm định F và kiểm định Hausman để xác định mô hình phù hợp nhất cho việc kiểm nghiệm các nhân tố tác động đến nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các tỉnh thành của Việt Nam. Sau khi lựa chọn được mô hình Random Effect là phù hợp, bài nghiên cứu sử dụng mô hình này để kiểm soát các hiện tượng phương sai thay đổi, tự tương quan và đa cộng tuyến trong bài phân tích. 123doc 3 CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TRƯỚC ĐÂY 2.
Khái niệm Đầu tư trực tiếp nước ngoài Theo khái niệm của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 “Đầu tư nước ngoài là việc các tổ chức, cá nhân nước ngoài trực tiếp đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào được Chính phủ Việt Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh hoặc xí nghiệp 100% vốn nước ngoài theo quy định của Luật này. Theo Luật Đầu tư của Việt Nam (2014) “FDI là việc nhà đầu tư nước ngoài, là cá nhân có quốc tịch nước ngoài hoặc tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài đưa vốn bằng tiền hoặc bằng bất cứ hình thức tài sản nào khác vào Việt Nam để tiến hành hoạt động đầu tư, và có tham gia quản lý hoạt động kinh doanh tại Việt Nam.” Đặc điểm làm cho hoạt động FDI khác với những hình thức đầu tư khác chính là có sự tham gia vào hoạt động quản lý kinh doanh của các nhà đầu tư. Theo Quỹ tiền tệ Quốc tế IMF đã đưa ra khái niệm về FDI như sau: “FDI là đầu tư có lợi ích lâu dài của một doanh nghiệp tại một nước khác (nước nhận đầu tư), không phải tại nước mà doanh nghiệp đang hoạt động (nước đi đầu tư) với mục đích quản lí một cách có hiệu quả doanh nghiệp”. Theo Tổ chức Thương mại Thế giới "Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó.
Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là công ty mẹ và các tài sản được gọi là công ty con hay chi nhánh công ty". Tóm lại, Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc một nhà đầu tư ở một quốc gia (có thể là cá nhân hoặc tổ chức) thực hiện góp vốn bằng tiền hoặc tài sản để thành lập một cơ sở kinh doanh tại một quốc gia khác và có quyền kiểm soát đối với cơ sở kinh doanh này nhằm mục đích thu lại lợi nhuận.
Khung lý thuyết nghiên cứu 2. Lý thuyết OLI của Dunning (1993) Lý thuyết OLI hay còn gọi là lý thuyết chiết trung được Dunning phát triển vào năm 1977. Theo lý thuyết này, một công ty khi quyết định thực hiện đầu tư trực tiếp ra nước ngoài cần hội đủ 03 lợi thế: - Lợi thế về quyền sở hữu (Ownership advantages – viết tắt là O): đây được xem là tiền đề cho các công ty muốn thực hiện FDI, công ty phải đang sở hữu những lợi thế so với các công ty khác như về: công nghệ, bằng sáng chế, mạng lưới tiếp thị, thương hiệu sản phẩm hay khả năng tiếp cận nguồn vốn với năng suất thấp; - Lợi thế về địa điểm (Location advantages – viết tắt là L): lợi thế địa điểm quyết định các công ty sẽ đầu tư vào một khu vực nào đó thay vì những khu vực khác vì các yếu tố thuận lợi như nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào, chi phí sản xuất thấp, môi trường cạnh tranh lành mạnh, thân thiện; - Lợi thế nội hóa (Internalisation advantages – viết tắt là I): nhờ vào lợi thế này, công ty có thể giảm các chi phí đại diện thông qua hoạt động FDI, ví dụ như giảm thuế, giảm chi phí giao dịch thay vì xuất khẩu công nghệ. Dunning cho rằng lợi thế OLI có thể thay đổi theo từng thời kỳ, theo thời gian hoặc không gian khác nhau.
Các lợi thế này phụ thuộc vào việc các quốc gia nhận đầu tư đã phát triển hay đang phát triển, quy mô thị trường lớn hay nhỏ, thị trường cạnh tranh thân thiện hay độc quyền hay sự khác nhau này phụ thuộc vào giai đoạn phát triển ở quốc gia nhận đầu tư. Lý thuyết về các bước phát triển của đầu tư (Investment Development Path - IDP) Phát triển dựa trên mô hình OLI, lý thuyết về các bước phát triển của đầu tư được chia thành 5 giai đoạn: 123doc 5 Giai đoạn 1: dòng vốn FDI đi vào quốc gia rất ít do những hạn chế của thị trường trong nước như cơ sở hạ tầng yếu kém, nguồn lao động không có trình độ cao,… và trong giai đoạn này hầu như không có dòng vốn đi ra. Giai đoạn 2: trong giai đoạn này, lợi thế vị thế bắt đầu hấp dẫn các nhà đầu tư bởi chi phí sản xuất thấp hơn, cơ sở hạ tầng cũng được cải thiện… Dòng vốn FDI đi vào trong giai đoạn này chủ yếu là để thay thế cho nhập khẩu và những ngành khai thác tài nguyên thiên nhiên. Trong khi đó, dòng vốn FDI đi ra vẫn không đáng kể.
Giai đoạn 3: dòng vốn FDI đi ra bắt đầu tăng trong giai đoạn này do kỹ thuật của quốc gia sở tại đã được nâng cao và tiêu chuẩn hóa. Đồng thời, lợi thế về chi phí lao động cũng giảm dần do nền kinh tế phát triển hơn. Do đó, các công ty tại nước sở tại sẽ bắt đầu tìm kiếm những thị trường mới tại các nước đang phát triển nhằm đạt lợi thế về quyền sở hữu và tận hưởng ưu đãi như chi phí nhân công giá rẻ. Bên cạnh đó, dòng vốn FDI đi vào sẽ bắt đầu giảm và tập trung vào những ngành thay thế nhập khẩu có hiệu quả.
Giai đoạn 4: trong giai đoạn này, các công ty đa quốc gia vẫn tích cực thực hiện đầu tư trực tiếp vào các quốc gia khác vì họ muốn tận dụng lợi thế vị thế của mình thay vì phải thực hiện xuất nhập khẩu để gia tăng chi phí giao dịch. Ngoài ra, lợi thế quyền sở hữu của các công ty trong nước tăng lên, công nghệ kỹ thuật được sử dụng thay thế dần cho lao động giá rẻ. Do vậy, dòng vốn FDI đi ra vẫn lớn hơn dòng vốn đi vào. Giai đoạn 5: ở giai đoạn này, cả dòng vốn đi vào và đi ra đều tiếp tục tăng.
Nhằm mục đích nâng cao kiến thức và tìm kiếm thị trường tiềm năng, các dòng FDI đi vào thường xuất phát từ các nước phát triển; hoặc từ các nước đang phát triển ở bước 4 và 5 để tìm kiếm sản xuất có hiệu quả. Do vậy luồng ra và luồng vào là tương tự. Tóm lại, ta thấy rằng mô hình OLI được dùng để giải thích hiện tượng FDI theo trạng thái tĩnh, còn lý thuyết IDP được dùng để xem xét hiện tượng FDI ở trạng thái động với từng bước phát triển của thị trường. Do đó, hai lý thuyết này là 123doc 6 phù hợp để dùng cho giải thích và nghiên cứu hiện tượng FDI trên thế giới nói chung cũng như ở Việt Nam nói riêng.
Các nghiên cứu thực nghiệm trước đây Việc nghiên cứu các nhân tố tác động đến việc thu hút dòng vốn FDI đã có từ lâu thông qua hàng loạt các bài nghiên cứu thực nghiệm ở Việt Nam nói riêng cũng như trên thế giới nói chung. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu sẽ không giống nhau và có thể thay đổi theo từng thời kỳ khác nhau, có thể nhân tố này có tác động ở thời kỳ này nhưng lại không còn ý nghĩa thống kê ở thời kỳ khác.