Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LAO ĐỘNG NỮ VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ LAO ĐỘNG NỮ 1. Khái quát chung về lao động nữ 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của lao động nữ 1. Khái niệm về lao động nữ Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ, lao động nữ đang là một trong các đối tượng chịu tác động lớn nhất và chưa được đánh giá đầy đủ.
Mặc dù Đảng và Nhà nước ta luôn dành sự quan tâm xứng đáng tới phụ nữ nói chung, lao động nữ nói riêng, tuy nhiên trong các văn bản pháp luật từ trước cũng như sau khi BLLĐ năm 2019 ra đời cũng chưa đưa ra định nghĩa chính thức nào về lao động nữ. Việc đưa ra khái niệm về lao động nữ là vấn đề quan trọng, không chỉ để phân biệt lao động nữ với lao động nam mà còn giúp chúng ta xác định được những điểm đặc trưng của lao động nữ, trên cơ sở đó xây dựng các chính sách phù hợp với đối tượng lao động này để đảm bảo vừa thúc đẩy bình đẳng giới, vừa mang lại hiệu quả kinh tế cao. Để đưa ra khái niệm cụ thể về lao động nữ, chúng ta cần xem xét dưới những góc độ sau: Thứ nhất, xét về mặt sinh học, lao động nữ là người có “giới tính nữ”. Nói cách khác, lao động nữ là NLĐ mà xét về mặt giới tính được xác định là phụ nữ.
Lao động nữ mang những đặc tính về sức khỏe, tâm, sinh lý riêng mà chỉ bản thân người phụ nữ mới có. Dân gian ta có câu “Phụ nữ chân yếu tay mềm” để nhấn mạnh rằng theo quy luật tự nhiên, phụ nữ có sức khỏe yếu hơn nam giới; phụ nữ gặp khó khăn hơn nam giới khi mang, vác các đồ vật nặng. Bên cạnh đó, đặc điểm riêng biệt nhất để phân biệt giữa nam và nữ, đó là chỉ có người phụ nữ mới có thiên chức làm mẹ, có khả năng mang thai và sinh con. Như vậy, sự xác định giới tính này là đặc điểm riêng biệt nhất để phân biệt lao động nữ với lao động nam.
6 Thứ hai, xét về mặt xã hội, lao động nữ là một bộ phận của lực lượng lao động xã hội, họ tham gia tích cực vào nhiều ngành nghề, lĩnh vực. Lao động nữ có vị trí, vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống xã hội bởi họ không chỉ là lực lượng lao động sản xuất ra của cải vật chất mà còn là những người tham gia xây dựng, cải tạo xã hội. Do đó, phải đặt lao động nữ trong mối tương quan với xã hội để xem xét, nhìn nhận, đánh giá một cách tổng quát, toàn diện, từ đó mới có thể đưa ra khái niệm cụ thể và đầy đủ về lao động nữ. Thứ ba, xét về mặt pháp lý, lao động nữ trước tiên là “người lao động” mang giới nữ.
Theo đó, lao động nữ là một chủ thể pháp lý, là một bên của quan hệ pháp luật lao động, họ có những quyền và nghĩa vụ pháp lý do pháp luật đặt ra. Về mặt bản chất, lao động nữ khi tham gia vào quan hệ pháp luật lao động với tư cách NLĐ thì họ phải có năng lực chủ thể nghĩa là phải có năng lực pháp luật lao động và năng lực hành vi lao động. Năng lực pháp luật lao động là khả năng pháp luật quy định cá nhân có quyền được làm việc, được trả công và thực hiện những nghĩa vụ. Năng lực hành vi lao động của cá nhân là khả năng bằng chính hành vi của bản thân họ trực tiếp tham gia vào một quan hệ pháp luật lao động để gánh vác những nghĩa vụ và thực hiện những quyền lợi của người lao động.
NLĐ khi tham gia quan hệ lao động phải đảm bảo số tuổi tối thiểu theo quy định. Pháp luật lao động hiện hành quy định NLĐ phải là người đủ 15 tuổi. Trong một số trường hợp đặc biệt, NLĐ có thể là người dưới 15 tuổi có khả năng lao động nhưng phải đảm bảo các điều kiện nhất định theo quy định của pháp luật. Từ những phân tích về ba khía cạnh trên (mặt sinh học, mặt xã hội và mặt pháp lý), có thể đưa ra khái niệm về lao động nữ như sau: “Lao động nữ là người có giới tính nữ, có đủ năng lực pháp luật lao động và năng lực hành vi lao động”.
Đặc điểm đặc thù của lao động nữ Trước hết, lao động nữ mang đầy đủ những những đặc điểm chung của NLĐ, đó là những người làm công và ăn lương. Lao động nữ nói riêng và NLĐ nói chung không có quyền quyết định các vấn đề liên quan đến tổ chức lao động sản xuất, họ phải phụ thuộc vào NSDLĐ. Sự lệ thuộc này không phải là sự lệ thuộc về mặt kinh 7 tế hay về thân thể mà là sự ràng buộc bởi các quy định của pháp luật về lao động - là sự lệ thuộc về mặt pháp lý vào NSDLĐ khi NLĐ cam kết với NLSDLĐ về việc thực hiện những nghĩa vụ dưới sự quản lý, điều hành, giám sát của NSDLĐ để được hưởng tiền lương theo thỏa thuận của hai bên trong khuôn khổ pháp luật. Ngoài ra, lao động nữ mang những đặc điểm riêng thể hiện tính đặc thù giúp phân biệt lao động nữ với lao động nam, cụ thể như sau: Về mặt sinh lý, sự khác biệt cơ bản giữa lao động nữ và lao động nam đó là lao động nữ ngoài việc tham gia lao động thì họ còn phải thực hiện thiên chức làm mẹ, sinh con.
Đây là chức năng thiên bẩm mà chỉ người phụ nữ mới có, nam giới dù muốn cũng không thể làm thay phụ nữ được. Thiên chức làm mẹ của người phụ nữ có ý nghĩa xã hội vô cùng to lớn, đó là sự tái sản xuất con người. Mặc dù nam giới cũng tham gia nuôi dạy con cái và chăm sóc gia đình, tuy nhiên trong thực tế, phần lớn phụ nữ vẫn là người đảm nhận trách nhiệm này. Người mẹ - người lao động nữ vừa là người xây dựng xã hội bằng lao động sản xuất, vừa là người sản sinh, xây dựng nên những con người mới.
Chính chức năng này đã khẳng định lao động nữ là lao động đặc thù, cần được Nhà nước đặc biệt quan tâm bảo vệ. Do vậy, khi xem xét các điều kiện, yếu tố ảnh hưởng đến lao động nữ chúng ta không thể bỏ qua đặc điểm này. Về mặt thể lực và sức khỏe, người phụ nữ thường có thể lực yếu hơn nam giới. Nhiều công trình nghiên cứu đã chứng minh rằng, phụ nữ có chiều cao thấp hơn, trọng lượng cơ thể ít hơn, hệ cơ bắp phát triển yếu hơn so với nam giới.
Bên cạnh đó, sức khỏe của phụ nữ cũng bị giảm sút rất nhiều do phải trải qua những giai đoạn sinh lý đặc biệt như thai nghén, sinh con, cho con bú… Kết quả nghiên cứu của Học viện Phụ nữ Việt Nam (2012) cho thấy, mặc dù mức sống đã được nâng cao, thể lực của lao động nữ đã được cả thiện nhưng về cơ bản các chỉ số nhân trắc học của phụ nữ Việt Nam vẫn chưa đáp ứng được tiêu chuẩn quốc tế. Vấn đề suy dinh dưỡng thường diễn ra rất phổ biến ở phụ nữ độ tuổi 40 và có đến 23% nhân lực nữ cảm thấy công việc hiện tại nặng nhọc so với sức khỏe của họ [18, tr. Do vậy, trong lao động sản xuất, thời gian nghỉ việc của phụ nữ thường nhiều hơn nam giới. Sự diễn biến trong đời sống sinh lý của phụ nữ cũng ảnh hưởng không nhỏ đến 8 hiệu suất làm việc của họ.
Trong những ngày hành kinh, thời kỳ thai nghén, nuôi con nhỏ, do những yếu tố chuyển hóa sinh học trong cơ thể, hiệu suất lao động của phụ nữ chỉ đạt khoảng 1/2 hoặc 2/3 so với lao động thường ngày [30, tr. Về mặt năng lực, lao động nữ thường có trực giác và trí nhớ tốt, có sự khéo léo, chính xác, tỉ mỉ, bền bỉ, dẻo dai trong công việc. Điều này cho thấy những ngành nghề về may mặc, da giầy, thủy sản, lắp ráp điện tử, thủ công mỹ nghệ, chế biến thực phẩm… những nghề đòi hỏi sự khéo léo, tỉ mỉ thường do lao động nữ đảm nhận. Ngoài ra, phụ nữ với bản tính mềm mỏng, chịu đựng, tế nhị, linh hoạt, nhạy bén cũng có nhiều ưu thế hơn nam giới trong những công việc ngoại giao, lãnh đạo quản lý.
Thực tế cho thấy, nhiều phụ nữ đã khẳng định được vai trò, vị thế của bản thân trong công tác ngoại giao, lãnh đạo quản lý khi phát huy được những khả năng thiên bẩm của nữ giới. Về mặt tâm lý, phụ nữ tham gia lao động trước tiên là vì nhu cầu kinh tế, sau là để khẳng định vai trò, vị thế của bản thân trong xã hội. Lao động là phương tiện để phụ nữ có thể tự nuôi sống bản thân mình mà không phải phụ thuộc vào nam giới như trong thời đại phong kiến. Đồng thời, thông qua lao động, phụ nữ cũng dần bộc lộ những phẩm chất, năng lực riêng biệt của họ, cùng với ý chí phấn đấu vươn lên để tự khẳng định bản thân, người lao động nữ ngày nay không chỉ làm chủ cuộc sống của mình mà họ đang dần làm chủ xã hội, họ tham gia vào tất cả các lĩnh vực, ngành nghề kinh tế, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển.
Khác với chế độ cũ, người phụ nữ ngày nay coi lao động là nghĩa vụ của bản thân đối với xã hội, họ tôn trọng kỷ luật lao động, quý trọng sản phẩm lao động và yêu mến người lao động. Lao động nữ ngày càng năng động sáng tạo trong công tác, được tôn vinh trong xã hội nhưng vẫn không hề quên đi vai trò, vị trí và thiên chức của mình trong cuộc sống gia đình. Họ là biểu tượng cho thế hệ phụ nữ trong thời đại mới - thời đại của khoa học công nghệ.