Nghiên cứu quy hoạch du lịch sinh thái tại Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên

Luận văn thạc sĩ lâm học nghiên cứu quy hoạch phát triển du lịch sinh thái tại khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa chi tiết.

Chuyên ngành

Lâm học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ
101
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan quy hoạch du lịch sinh thái KBTTN Xuân Liên Thanh Hóa

Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên nằm trên địa bàn huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Vị trí này cách trung tâm thành phố Thanh Hóa 65 km về phía Tây Nam. Khu vực sở hữu hệ sinh thái rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới đặc trưng. Nơi đây lưu giữ nguồn gen quý hiếm của nhiều loài động thực vật nguy cấp. Các loài tiêu biểu gồm Pơ mu, Sa mu, Bách xanh, Vượn đen má trắng và Báo gấm. Địa hình khu bảo tồn đa dạng với nhiều đỉnh núi cao, hang động và hệ thống thác nước tự nhiên. Đặc biệt, lòng hồ Cửa Đạt rộng 3.300 ha tạo nên cảnh quan sơn thủy độc đáo. Khí hậu tại Xuân Liên quanh năm trong lành và mát mẻ. Không gian văn hóa bản địa của đồng bào dân tộc thiểu số mang đậm nét đặc sắc. Đây là nguồn tài nguyên tự nhiên và nhân văn vô cùng giá trị. Hoạt động quy hoạch du lịch sinh thái tại khu bảo tồn mở ra hướng đi bền vững. Dự án giúp phát huy tiềm năng kinh tế vùng núi phía Tây Thanh Hóa. Công tác quản lý khoa học đóng vai trò then chốt để gìn giữ cân bằng sinh thái lâu dài.

1.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên tại KBTTN Xuân Liên

Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên nằm ở phía Tây Nam tỉnh Thanh Hóa. Tuyến đường giao thông kết nối từ huyện Thường Xuân đến khu bảo tồn dài khoảng 7 km. Khu vực chỉ cách đường Hồ Chí Minh 16 km. Mạng lưới hạ tầng này tạo điều kiện thuận lợi cho du khách di chuyển bằng ô tô và xe máy. Địa hình nơi đây chia cắt mạnh bởi nhiều dãy núi cao và thung lũng hẹp. Thảm thực vật bao phủ dày đặc giúp điều hòa khí hậu quanh năm. Nhiệt độ trung bình năm luôn duy trì ở mức thích nghi cho các hoạt động dã ngoại ngoài trời. Hệ thống sông suối dày đặc cung cấp nguồn nước dồi dào cho hệ sinh thái rừng. Các yếu tố tự nhiên tạo nền tảng vững chắc cho phát triển du lịch sinh thái.

1.2. Giá trị đa dạng sinh học và tài nguyên văn hóa bản địa

Xuân Liên sở hữu hệ động thực vật phong phú mang tầm quốc tế. Nơi đây là sinh cảnh cư trú của nhiều loài động vật quý hiếm như Vượn đen má trắng và Báo gấm. Quần thể thực vật ghi nhận nhiều cây cổ thụ hàng nghìn năm tuổi như Sa mu và Pơ mu. Về mặt văn hóa, khu bảo tồn gắn liền với các di tích lịch sử nổi tiếng. Điển hình là đền Chúa Thượng Ngàn, Miếu Cô và đền thờ danh nhân Cầm Bá Thước. Cộng đồng dân tộc Thái và Mường sinh sống quanh vùng đệm còn lưu giữ nếp nhà sàn truyền thống. Lễ hội dân gian và ẩm thực bản địa tạo nên sức hút trải nghiệm văn hóa sâu sắc. Sự kết hợp sinh thái và nhân văn tạo lợi thế cạnh tranh vượt trội cho du lịch Xuân Liên.

II. Thực trạng quy hoạch du lịch sinh thái KBTTN Xuân Liên Thanh Hóa

Ngành du lịch Thanh Hóa sở hữu nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú với hơn 85 nghìn ha rừng đặc dụng. Tuy nhiên, hoạt động khai thác du lịch sinh thái tại KBTTN Xuân Liên vẫn còn ở giai đoạn sơ khai. Các sản phẩm trải nghiệm hiện tại còn đơn điệu và thiếu chiều sâu văn hóa. Đóng góp kinh tế của du lịch vào ngân sách địa phương vẫn chưa tương xứng với tiềm năng to lớn. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ sự thiếu hụt các nghiên cứu cơ bản và khảo sát chuyên sâu. Hoạt động quản lý chưa có sự gắn kết đồng bộ giữa các ban ngành và cấp chính quyền. Việc đầu tư hạ tầng du lịch còn mang tính tự phát và manh mún. Cơ sở vật chất kỹ thuật chưa đáp ứng tiêu chuẩn phục vụ các đoàn khách quy mô lớn. Hoạt động quảng bá hình ảnh điểm đến chưa đạt hiệu quả cao trên thị trường du lịch. Ngoài ra, nguồn nhân lực quản lý và hướng dẫn viên bản địa còn hạn chế về kỹ năng chuyên môn. Việc thiếu quy hoạch tổng thể bài bản dẫn đến nguy cơ xung đột giữa bảo tồn sinh học và phát triển kinh tế.

2.1. Những bất cập trong công tác quản lý và khai thác cảnh quan

Công tác tổ chức du lịch tại Xuân Liên hiện gặp nhiều rào cản về cơ chế phối hợp. Mối liên kết giữa đơn vị quản lý rừng, chính quyền địa phương và doanh nghiệp lữ hành còn lỏng lẻo. Hoạt động kiểm soát lượng khách ra vào khu bảo tồn chưa áp dụng công nghệ số. Tình trạng xả rác và tác động tiêu cực đến thảm thực vật tự nhiên vẫn diễn ra rải rác. Hệ thống bảng biểu chỉ dẫn du lịch và cảnh báo an toàn sinh thái còn thiếu. Nguồn kinh phí dành cho việc tái đầu tư bảo tồn cảnh quan từ nguồn thu du lịch chưa rõ ràng. Sự thiếu đồng bộ này ảnh hưởng trực tiếp đến tính bền vững của môi trường sinh thái.

2.2. Thách thức về cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực địa phương

Hạ tầng giao thông nội bộ kết nối các điểm du lịch trong khu bảo tồn còn gập ghềnh. Các dịch vụ lưu trú, ăn uống và cứu hộ tại chỗ chưa đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng cao. Bên cạnh đó, nhận thức của người dân vùng đệm về du lịch bền vững còn hạn chế. Người dân bản địa chưa được đào tạo bài bản về kỹ năng làm du lịch cộng đồng và bảo vệ tài nguyên. Nguồn nhân lực du lịch chủ yếu làm việc theo kinh nghiệm truyền thống, thiếu chứng chỉ nghề. Rào cản ngôn ngữ và kỹ năng giao tiếp cũng cản trở việc thu hút khách quốc tế. Đây là những điểm nghẽn lớn cần giải quyết triệt để trong quy hoạch.

III. Giải pháp quy hoạch du lịch sinh thái KBTTN Xuân Liên Thanh Hóa

Phương pháp quy hoạch du lịch sinh thái tại Xuân Liên đòi hỏi cách tiếp cận khoa học liên ngành. Bước đầu tiên là ứng dụng công nghệ định vị GPS để điều tra thực địa và lập bản đồ tài nguyên. Nhóm nghiên cứu tiến hành phỏng vấn sâu người dân địa phương để ghi nhận tri thức bản địa. Việc phân tích số liệu khí hậu nhiều năm giúp đánh giá mức độ thích nghi sinh học đối với sức khỏe con người. Các yếu tố như nhiệt độ trung bình, lượng mưa và độ ẩm được đối chiếu nghiêm ngặt. Phân vùng không gian chức năng phải tách biệt rõ ràng khu bảo vệ nghiêm ngặt, khu phục hồi sinh thái và khu dịch vụ hành chính. Chiến lược phát triển sản phẩm cần ưu tiên các tour trải nghiệm leo núi khám phá rừng Pơ mu nguyên sinh, chèo thuyền ngắm cảnh lòng hồ Cửa Đạt và cắm trại sinh thái. Công tác đào tạo kỹ năng du lịch cho cộng đồng dân tộc thiểu số cần được triển khai thường xuyên. Ngoài ra, việc thiết lập hệ thống giám sát sức chứa sinh thái giúp kiểm soát chặt chẽ lưu lượng khách tham quan nhằm ngăn ngừa quá tải môi trường.

3.1. Ứng dụng công nghệ GIS và đánh giá chỉ tiêu khí hậu sinh học

Phương pháp nghiên cứu tích hợp thiết bị GPS cầm tay hỗ trợ xác định chính xác tọa độ cảnh quan. Dữ liệu thực địa kết hợp hệ thống thông tin địa lý GIS giúp xây dựng bản đồ chuyên đề du lịch sinh thái. Đồng thời, nghiên cứu kế thừa chuỗi số liệu khí hậu nhiều năm của trạm khí tượng thủy văn. Các chỉ số về nhiệt độ và lượng mưa được so sánh với bảng chỉ tiêu khí hậu sinh học cho cơ thể người. Kết quả phân tích chỉ ra các khung thời gian lý tưởng nhất trong năm để đón khách. Giải pháp này giúp các đơn vị lữ hành thiết kế lịch trình tour an toàn, thoải mái và đạt hiệu quả trải nghiệm cao nhất.

3.2. Phân vùng không gian và phát triển sản phẩm du lịch đặc thù

Quy hoạch không gian chia lãnh thổ khu bảo tồn thành các phân khu chức năng riêng biệt. Khu bảo vệ nghiêm ngặt chỉ cho phép hoạt động nghiên cứu khoa học chuyên sâu và tuần tra rừng. Khu phục hồi sinh thái tổ chức các tuyến trekking giới hạn người tham gia để khám phá đa dạng sinh học. Khu dịch vụ hành chính và vùng đệm phát triển mô hình du lịch homestay văn hóa Thái, Mường. Hồ Cửa Đạt quy hoạch các hoạt động du thuyền vãng cảnh kết hợp thể thao dưới nước không gây ô nhiễm. Sự phân vùng khoa học bảo đảm tài nguyên được khai thác hợp lý mà không xâm phạm vùng lõi sinh thái.

IV. Ứng dụng quy hoạch du lịch sinh thái tại KBTTN Xuân Liên Thanh Hóa

Quy hoạch du lịch sinh thái tại KBTTN Xuân Liên mang ý nghĩa chiến lược sâu sắc đối với sự phát triển liên vùng của tỉnh Thanh Hóa. Vị trí địa lý thuận lợi giúp Xuân Liên dễ dàng kết nối với Vườn quốc gia Bến En, Khu bảo tồn Pù Hu và Pù Luông. Mạng lưới này hình thành chuỗi du lịch sinh thái rừng đặc dụng khép kín và hấp dẫn. Quy hoạch tạo lập cơ sở pháp lý vững chắc để thu hút các nguồn vốn đầu tư hạ tầng xanh. Đề án vừa góp phần nâng cao đời sống dân sinh vùng đệm, vừa giảm thiểu áp lực khai thác tài nguyên rừng trái phép. Nguồn thu từ dịch vụ du lịch cung cấp nguồn tài chính bền vững cho các nỗ lực bảo tồn động thực vật quý hiếm. Mô hình du lịch học tập và nghiên cứu thực địa giúp nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường tự nhiên. Sự thành công của quy hoạch khẳng định tính đúng đắn trong định hướng phát triển kinh tế xanh của tỉnh Thanh Hóa. Đây là hình mẫu tiêu biểu cho việc hài hòa giữa bảo tồn thiên nhiên và phát triển kinh tế xã hội vùng cao.

4.1. Khả năng liên kết chuỗi tuyến điểm du lịch trong khu vực

Xuân Liên giữ vai trò then chốt trong mạng lưới du lịch sinh thái miền Tây Thanh Hóa. Vị trí tiếp giáp các trục giao thông huyết mạch mở ra cơ hội liên kết tour du lịch liên tỉnh và quốc tế. Tuyến kết nối từ thành phố Thanh Hóa qua Thường Xuân tới cửa khẩu Bát Mọt sang Lào mang lại tiềm năng phát triển vượt bậc. Đồng thời, khu bảo tồn nằm trong cụm sinh thái rừng đặc dụng cùng Pù Hoạt, Cúc Phương, Xuân Nha và Thượng Tiến. Sự liên kết này tạo thành chuỗi hành trình trải nghiệm thiên nhiên độc đáo cho du khách trong và ngoài nước.

4.2. Tác động kinh tế xã hội và bảo tồn đa dạng sinh học

Quy hoạch du lịch sinh thái tạo việc làm và nguồn thu nhập ổn định cho người dân bản địa. Mô hình du lịch dựa vào cộng đồng khuyến khích đồng bào tham gia dẫn đường, cung cấp dịch vụ ẩm thực và đồ thủ công. Khi kinh tế gia đình cải thiện, áp lực săn bắt động vật hoang dã và khai thác gỗ giảm rõ rệt. Nhận thức bảo vệ rừng của người dân chuyển biến từ bị động sang chủ động phối hợp cùng kiểm lâm. Hơn nữa, doanh thu từ vé tham quan đóng góp trực tiếp vào quỹ bảo vệ và phát triển rừng. Đây là nền tảng thúc đẩy mô hình kinh tế xanh phát triển bền vững.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

18/08/2026
Luận văn thạc sĩ lâm học nghiên cứu quy hoạch phát triển du lịch sinh thái khu bảo tồn thiên nhiên xuân liên thường xuân thanh hóa

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới 1. Du lịch sinh thái Du lịch sinh thái và các hình thức du lịch bền vững có nguồn gốc từ các phong trào môi trường của những năm 1970. Du lịch sinh thái bản thân nó không trở thành phổ biến như là một khái niệm du lịch cho đến cuối những năm 1980.

Trong thời gian đó, nhu cầu nâng cao nhận thức môi trường và mong muốn đi du lịch đến các địa điểm tự nhiên trái ngược với các địa điểm du lịch được xây dựng phát triển mạnh mẽ. Kể từ đó, một số tổ chức chuyên về du lịch sinh thái đã phát triển và nhiều người đã trở thành chuyên gia về nó. Do sự phổ biến của du lịch có liên quan tới môi trường, các loại của các chuyến đi này đang được phân loại như du lịch sinh thái. Tuy nhiên, hầu hết trong số này là không thực sự là du lịch sinh thái do không chú trọng bảo tồn, giáo dục du lịch tác động thấp, sự tham gia của xã hội và văn hóa tại các địa điểm đến tham quan.

Vì vậy, để được coi là du lịch sinh thái, một chuyến đi phải đáp ứng các nguyên tắc sau đây được quy định bởi Hiệp hội Du lịch sinh thái quốc tế: + Giảm thiểu tác động của việc thăm viếng các địa điểm du lịch + Xây dựng sự tôn trọng, nâng cao nhận thức môi trường và tập quán văn hóa. + Đảm bảo rằng du lịch cung cấp những kinh nghiệm tích cực cho cả du khách và người dân địa phương. + Cung cấp hỗ trợ tài chính trực tiếp cho khu bảo tồn. +Cung cấp trợ giúp tài chính, trao quyền và lợi ích khác cho nhân dân địa phương.

4 +Nâng cao nhận thức môi trường, xã hội của khách du lịch và của chính nước chủ nhà. Cơ hội cho du lịch sinh thái tồn tại ở nhiều địa điểm khác nhau trên toàn thế giới và hoạt động của nó có thể thay đổi rộng rãi. Ví dụ: Đảo Madagascar nổi tiếng với các hoạt động du lịch sinh thái vì đó là một điểm nóng đa dạng sinh học, nhưng cũng có một ưu tiên cao cho việc bảo tồn môi trường và cam kết giảm nghèo. Chính phủ đảo cam kết bảo tồn, du lịch sinh thái được cho phép với số lượng nhỏ, doanh thu du lịch dùng hỗ trợ trong việc giảm đói nghèo của đất nước và lập các quỹ giáo dục môi trường.

Một nơi du lịch sinh thái nổi tiếng khác, ở Indonesia đó là Vườn quốc gia Komodo. Công viên được tạo thành từ 233 dặm vuông (603 sq km) đất được trải rộng trên một số hòn đảo và 469 dặm vuông (1.214 sq km) nước. Khu vực này được thành lập như một công viên quốc gia vào năm 1980 và được phổ biến cho du lịch sinh thái vì đa dạng sinh học độc đáo và quý hiếm của nó. Du lịch sinh thái cũng rất phổ biến ở Trung và Nam Mỹ.

Các điểm đến bao gồm Bolivia, Brazil, Ecuador, Venezuela, Guatemala và Panama. Tại Guatemala mục tiêu chính của du lịch sinh thái sinh thái là giáo dục du khách về truyền thống văn hóa lịch sử của người Maya, Itza, bảo vệ các vùng đất trong dự trữ sinh quyển Maya và cung cấp thu nhập cho người dân của khu vực. Mặc dù sự phổ biến của du lịch sinh thái trong các ví dụ nêu trên, các nhà phê bình của du lịch sinh thái cũng trích dẫn rằng du lịch tới khu vực hoặc các hệ sinh thái nhạy cảm tăng mà không có quy hoạch và quản lý thực sự có thể gây hại cho hệ sinh thái bởi vì cơ sở hạ tầng cần thiết để duy trì du lịch như: đường giao thông có thể đóng góp vào suy thoái môi trường. Các nhà phê bình cũng cho biết du lịch sinh thái dễ tác động tiêu cực đến cộng đồng địa phương vì sự xuất hiện của du khách nước ngoài.

(Amanda Briney, “An Overview of Ecotourism” [1] ) 5 DLST có nhiều định nghĩa bởi các cá nhân và tổ chức hiệp hội du lịch: - Theo Cebllos – Lascurain, H, 1987 thì “DLST là du lịch vào những khu tự nhiên hầu như không bị ô nhiễm hoặc ít bị xáo trộn với mục tiêu đặc biệt: nghiên cứu, thưởng ngoạn, trân trọng khung cảnh và muôn thú hoang dã và các biểu thị văn hóa được khám phá trong các khu vực này”. - "Du lịch sinh thái là loại hình du lịch diễn ra trong các vùng có hệ sinh thái tự nhiên còn bảo tồn khá tốt nhằm mục tiêu nghiên cứu, chiêm ngưỡng, thưởng thức phong cảnh, động thực vật cũng như các giá trị văn hoá hiện hữu" (Boo, 1991) - “DLST là du lịch tại các vùng còn chưa bị con ngươi làm biến đổi. Nó phải đóng góp vào BTTN và phúc lợi của dân địa phương” (L. - Theo Hiệp hội DLST Hoa Kỳ,1998 “DLST là du lịch có mục đích với các khu tự nhiên, hiểu biết về lịch sử văn hóa và lịch sử tự nhiên của môi trường, không làm biến đổi tình trạng của hệ sinh thái, đồng thời tạo cơ hội để phát triển kinh tế, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên và lợi ích tài chính cho cộng đồng địa phương” - “DLST là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và định hướng về môi trường tự nhiên và nhân văn, được quản lí một cách bền vững và có lợi cho sinh thái” (Hiệp hội DLST Australia).

- Đối với cá nhân, định nghĩa chính xác và hoàn chỉnh là định nghĩa của Honey (1999) “DLST là du lịch tới những khu vực nhạy cảm và nguyên sinh thường được bảo vệ với mục đích nhằm gây ra ít tác hại và với quy mô nhỏ nhất. Nó giúp giáo dục du khách, tạo quỹ để bảo vệ môi trường, nó trực tiếp đem lại nguồn lợi kinh tế và sự tự quản lý cho người dân địa phương và nó khuyến khích tôn trọng các giá trị văn hóa và quyền con người”. Như vậy khái niệm, tính chất của DLST đã được nhiều cơ quan tổ chức, cá nhân trên thế giới nghiên cứu đưa ra và hiện nay DLST đang phát 6 triển mạnh mẽ toàn cầu, ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong các loại hình du lịch. Sự tăng trưởng nhanh chóng của du lịch tự nhiên và du lịch sinh thái đến các khu BTTN đã kéo theo sự thay đổi chiến lược trong quản lý khu vực bảo tồn theo hướng phát triển tích hợp.

Do đó các khu BTTN nên xem xét làm thế nào để có thể kiểm soát du lịch tự nhiên đến các khu vực quản lý và chuyển đổi nó trở thành du lịch sinh thái vì lợi ích của việc bảo tồn và sinh kế của người dân địa phương. Khu bảo tồn thiên nhiên và quy hoạch du lịch sinh thái Từ năm 1982, Hoa Kỳ đã thành lập công viên quốc gia đầu tiên trên thế giới Yellow Stone; năm 1879 ở Úc, công viên quốc gia có lịch sử thành lập sớm thứ hai thế giới là Royal National được thành lập. Năm 1924 công viên quốc gia đầu tiên của Vương quốc Anh được ra quyết định thành lập; hiện nay ở nước Anh các công viên quốc gia được ra quyết định thành lập chiếm 9% diện tích đất tự nhiên. Định nghĩa của IUCN khẳng định bảo tồn đa dạng sinh học là mục tiêu cơ bản của khu BTTN: “Khu bảo tồn thiên nhiên là một khu vực trên đất liền hoặc trên biển được khoanh vùng để bảo vệ đa dạng sinh học, các tài nguyên thiên nhiên và văn hoá đi kèm, được quản lý bằng các công cụ pháp luật hoặc các hình thức quản lý có hiệu quả khác” (IUCN 1994).

Hệ thống phân hạng khu BTTN quốc tế của IUCN hiện hành được công bố năm 1994, trên cơ sở cập nhật Hệ thống phân hạng 1978. Hệ thống phân hạng 1994 có tất cả 6 phân hạng. Năm phân hạng đầu tiên chủ yếu dựa trên các phân hạng (I-V) của hệ thống phân hạng 1978. Việc xắp xếp một khu BTTN vào một phân hạng nhất định cần căn cứ vào mục tiêu quản lý chủ đạo của khu BTTN đó.

Mối quan hệ giữa các mục tiêu quản lý và các phân hạng thể hiện ba Bảng 1.1: Mối quan hệ giữa mục tiêu quản lý và các phân hạng KBTTN Mục tiêu quản lý Ia Ib II III IV V VI Nghiên cứu khoa học 1 3 2 2 2 2 3 Bảo vệ đời sống hoang dã 2 1 2 3 3 - 2 Bảo vệ đa dạng loài và gen 1 2 1 1 1 2 1 Gìn giữ các dịch vụ môi trường 2 1 1 - 1 2 1 Bảo vệ các đặc điểm tự nhiên và văn hóa - - 2 1 3 1 3 Du lịch và nghỉ dưỡng - 2 1 1 3 1 3 Giáo dục - - 2 2 2 2 3 Sử dụng bền vững tài nguyên của hệ sinh thái tự nhiên - 3 3 - 2 2 1 Gìn giữ các bản sắc văn hóa và truyền thống - - - - - 1 2 (Ghi chú: 1 = Mục tiêu chủ yếu; 2 = Mục tiêu thứ yếu; 3 = Mục tiêu tiềm năng; - = Không thể ứng dụng) Đề xuất tại Đại hội các vườn quốc gia thế giới lần thứ V của IUCN: “Du lịch trong và ngoài KBTTN khi được thiết kế thành một phương pháp bảo tồn: hỗ trợ, tăng cường nhận thức về các giá trị quan trọng của KBTTN như giá trị sinh thái, văn hóa, tinh thần, thẩm mỹ, giải trí và kinh tế; đồng thời tạo thu nhập phục vụ bảo tồn và bảo vệ đa dạng sinh học, hệ sinh thái và di sản văn hóa. Du lịch cũng nên đóng góp nâng cao chất lượng cuộc sống cho cộng đồng bản địa và họ là những người tạo động lực hỗ trợ bảo vệ phong tục và giá trị truyền thống, bảo vệ và tôn trọng những khu vực linh thiêng cũng như kiến thức truyền thống”. DLST ngoài tác dụng tích cực của nó như một công cụ bảo tồn tại các KBTTN thì nó còn có tác động tiêu cực đối với môi trường. Ý tưởng giảm tác động tiêu cực của du khách tới KBTTN được thực hiện bằng cách quyết định sức chứa và giới hạn số lượng du khách bắt buộc.

Đã có nhiều khái niệm về sức chứa tùy vào điều kiện và nơi khái niệm được áp dụng song nói chung 8 sức chứa là số đo về mức độ và loại hình sử dụng có thể được duy trì trong một khu vự và cộng đồng xung quanh trong giới hạn cho phép. Ceballos- Lascurain (1996) và Cifuentes (1992) giới thiệu những phương pháp đo sức chứa và những ví dụ về ứng dụng của chúng. Việc hạn chế số lượng du khách được coi là giải pháp đơn giản và trực tiếp nhằm giảm tác động của du lịch.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ