Chương I. Cơ sở lý luận cơ bản về QLNN các DNTN. Thực trạng QLNN các DNTN trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi. Một số giải pháp QLNN các DNTN trên địa bàn tỉnh Quảng Ngai.
Tổng quan tài liệu Để thực hiện đề tài này, tác giả đã nghiên cứu một số nội dung về QLNN. nói chung, quản lý DN, DNTN, DNNVV. của các tác giả đã nghiên cứu về vấn đề này. Những tài liệu chủ yếu mà tác gải đã nghiên cứu đó là: Nguyễn Hồng Sơn, Phan Huy Đường (2013), giáo trình “Khoa học quản lý", NXB Đại học Quốc Gia, Hà Nội.
Giáo trình đưa ra những khái niệm cơ bản, vai trò, yêu về quản lý, quản lý kinh doanh nói riêng. Ngoài ra, tác giả thêm các thuyết quản lý của các trường pháp khác nhau. Đồng thời nêu lên những chức năng quản lý DN ứng dụng vào thực tế. Giáo trình cung cấp những khái niệm cu thé để xây dựng cơ sở lý luận tạo tiền đề để phân tích các.
vấn đề trong luận văn. Đỗ Hoàng Toàn, Mai Văn Bưu (2005), giáo trình “Quán jý nhà nước. về kinh , NXB Đại học kinh tế Quốc dân, Hà Nội. Giáo trình cung cấp những kiến thức lý luận, khái quát cơ bản, có tính hệ thống của một môn khoa học về việc nhà nước quản lý nền kinh tế quốc dân của nhà nước.
Bên cạnh đó, đề cập đến những quy luật và nguyên tắc, công cụ và phương pháp, mục tiêu và chức năng của công tác QLNN về kinh tế. Ngoài ra, nội dung giáo trình nhằm cung cấp cho tác giả có những kiến thức cơ bản, hiện đại, Việt Nam trong lĩnh vực QLNN vẻ kinh tế. Phan Huy Đường (2015), giáo trình “Quản lý Nhà nước về kinh tẾ”, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội. Giáo trình cung cấp khái quát hoá các khái niệm, phạm trù, các yếu tố, bộ phận cấu thành, các chức năng, nguyên tắc, phương pháp, tô chức bộ máy, thông tin và quyết định quản lý và cán bộ.
công chức QLNN về kinh tế. Ngô Huy Cương (2010), “Vài bình luận về pháp luật DNTN”, bài viết nêu về các vấn đề pháp lý của DNTN, cơ chế vận hành quản trị DNTN. Bên cạnh đó, bài viết còn tập trung vào việc tìm ra các bất cập của pháp luật về 10 DNTN. Tuy nhiên bài viết không đi sau vào nội dung QLNN đi ới DNTN cu thé, chỉ đi sâu vào pháp luật của DNTN.
Nguyễn Quốc Nghỉ và Mai Văn Nam, bài “Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của DNNVV ở thành phố Cần Thơ” nghiên cứu nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh cia DNNVV 6 Thanh phó Cần Thơ. Tác giả sử dụng phương. pháp thống kê mô tả và phân tích hồi qui tuyến tính đa biến được sử dụng trong nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các nhân tố mức độ tiếp cận chính sách hỗ trợ của Chính phủ, trình độ học vấn của chủ DN, quy mô DN, các mối quan hệ xã hội của DN và tốc độ tăng doanh thu ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của DNNVV ở Thành phố Cần Thơ.
Bài viết phân tích khá rõ về tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến DN, tuy nhiên chưa phân tích rõ về các nội dung QLNN đối với DN như: hoạch định phát triển DN, phổ ến tuyên truyền chính sách quy định, bộ máy quản lý, thanh tra kiểm tra DN. Nguyễn Hoàng Dũng (2013), “Tăng cường hiệu lực của công tác QLNN. đối với DNNVV trên địa bàn Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội”. Luận văn làm rõ hệ thống cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn, thực trạng QLNN đối với DNNVV.
Trên cơ sở phân tích thực trạng và xuất phát từ việc nghiên cứu các quan điểm, định hướng về phân cấp QLNN cho cấp quận, đã đề xuất các giải pháp hoàn thiện vai trò QLNN đối với DNNVV trong thời gian tới. Phạm Thị Ngọc Ánh (2010), “QLNN đối với DNTN”, Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội. Bài viết phân tích thực trạng và nêu ra được những hạn chế, nguyên nhân cản trở việc thành lập và phát triển của các DN, rút ra những đánh giá tổng quát về tình hình quan ly DN, cơ chế chính sách phát triển DN trên địa bàn TP Đà Nẵng thời gian qua. Bên cạnh đó đề xuất giải pháp đôi mới QLNN đối với doanh sau đăng ký thành lập trên địa bàn TP Đà Nẵng 11 trong những năm đến.
Tuy nhiên bài viết chưa nêu rõ được bộ máy quản lý phát triển DN, chưa nêu được cụ thể về thực trạng tuyên truyền chính sách quy định phát triển DN ở địa phương. Nguyễn Thị Uyên (2016), “QLNN đối với DNTN trên địa bàn Quận Hà Đông - Hà Nội. Luận văn đã hệ thống hóa những lý luận cơ bản trong hoạt động QLNN đối với các DNTN và nêu bậc được thực trạng về quản lý DNTN tại Quận Hà Đông - Hà Nội. Tuy nhiên, bài viết chưa nêu được thực trạng và giải pháp về quy hoạch, định hướng, tạo môi trường pháp lý cho DNTN.
Đỗ Đình Chuyền (2015), “QLNN đối với DN trên địa bàn Thành phó Hà Nội”. Luận văn làm rõ cơ sở lý luận, thực trạng QLNN đối với DN trên địa bàn thành phó Hà Nội, bên cạnh đó nêu rõ những giải pháp cụ thé dé phat triển DN. Tuy nhiên, luận văn chưa nêu rõ được thực trạng về bộ máy quản lý phát triển DN tại địa phương. Hoàn Yến (2013), “Địa vị pháp lý của DNTN trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay”.
Luận văn làm rõ cơ sở lý luận, thực trạng về địa vị pháp lý trong hệ thống pháp luật và trên thực tế của DNTN ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, từ đó đề ra các giải pháp để hoàn thiện địa vị pháp lý của DNTN. Cao Sỹ Kiêm, “DNNVV: Thực trạng và giải pháp hỗ trợ năm 2013”, bài viết nghiên cứu về thực trạng hoạt động của DNNVV và những hạn chế é tiếp cận các chính sách của Nhà nước. Nguyễn Hồng Sơn, Phan Huy Đường, giáo trinh “Khoa hoc quan lý", NXB Đại học Quốc Gia, Hà Nội (2013). Giáo trình cung cấp cho người đọc những khái niệm cơ bản, vai trò, yêu cải quản lý và quản lý kinh doanh Ngoài ra, còn giúp người đọc biết thêm các thuyết quản lý của các trường phái khác nhau để ứng dụng vào thực tiễn.
Đồng thời nêu lên những chức năng quản lý doanh nghiệp, 12 Nguyễn Thế Quyền (2009), “Giải pháp tăng cường hiệu lực, hiện quả QUNN đối với các DN”, Tạp chí QLNN, số 158. 'Vũ Đức Dũng (2009), “Phát triển DNTN ở tỉnh Ninh Bình trong giai đoạn hiện nay, Tạp chí QLNN, số 164. Với tình hình nghiên cứu đề tài trên cho thấy việc phát triển DN ở thành phó, tỉnh thì công tác QLNN phải đặt lên hàng đầu, đòi hỏi phải có sự tham gia tích cực, đồng bộ không chỉ của các cơ quan nhà nước cấp trung ương mà có sự tham gia nỗ lực của các cơ quan quản lý cấp tỉnh, huyện. Các nghiên cứu trên đã tập trung vào nghiên cứu vấn đề QLNN đối với DN, DNNVV, DNTN đánh giá về thực trạng của DN.
Bên cạnh đó nêu thực. trạng thực hiện QLNN các DNTN, DNNVV dựa trên các nguồn dữ liệu phong phú, đa dạng do các nhà khoa học, điều tra nghiên cứu được, kết hợp với các nguồn thông tin thu thập trực tiếp từ DN. Tuy nhiên, các nghiên cứu trên vẫn chưa đề cập cụ thê đến các yếu tố tác động, nội dung, thực trạng quản lý DNTN trên một địa bàn tỉnh và các giải pháp nhà nước cần thiết để thực thi chính sách. Các vấn đề cơ sở lý luận về QLNN các DNTN đã được các tác giả nghiên cứu khá kỹ và đề tài không tiếp tục nghiên cứu; tác động của các yếu tố đến hoạt động quản lý DNTN; những vấn đề như việc hoạch định, công tác tuyên truyền chính sách quy định, tổ chức bộ máy quản lý, công tác thanh tra kiểm tra, xử lý vi phạm dé phát triển DNTN và giải pháp quản lý DNTN.vẫn có thể tiếp tục để phát triển nghiên cứu vì theo mà bản thân tác giả cho là khá quan trọng đặc biệt trong giai đoạn hiện nay.
Do vậy, bản thân lựa chọn hướng nghiên cứu đề tài về những vấn đề lý luận về QLNN các DNTN; thực trạng về quản lý DNTN trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, đưa ra các giải pháp hoàn thiện về các chính sách QLNN đối với DNTN trên địa bàn tinh trong thời gian tới để hoàn chinh nghiên cứu của mình 13 CHUONG 1 MOT SO VAN DE LY LUAN CO BAN VE QUAN LY DOANH NGHIỆP TU NHÂN 1. KHÁI QUÁT VỀ QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP. Một số khái niệm Doanh nghiệp Hiện nay có khả nhiều định nghĩa về DN, mỗi định nghĩa đều mang nội dung nhất định với một giá trị nhất định, ở mỗi cách tiếp cận khác nhau sẽ có những quan điểm về DN khác nhau. DN là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh thu lợi nhuận.
DN Việt Nam là DN được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo pháp luật Việt Nam và có trụ sở chính đặt tại Việt Nam. Năm 1994, Luật DN được thông qua đã có những quy định cụ thể và chỉ tiết hơn về DNTN. Qua nhiều giai đoạn, và liên tục sửa đổi bỗ sung để phù hợp với tình hình phát triển, đến nay Luật DN 2014 gần như đã hoàn thiện các điều khoản cần thiết cho DNTN thành lập và hoạt động. Luật DN 2014 vừa tiếp tục kế thừa, luật hóa những quy định phù hợp đã và đang đi vào cuộc sống của Luật DN 2005, nhưng đồng thời đã sửa đổi, bỗ sung nhiều quy định mới nhằm tháo gỡ những hạn ché, bat p Luật 2005 và tiếp tục tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, phù hợp với thông lệ quốc tế.
Doanh nghiệp tư nhân Luật DN năm 2014 quy định: “DNTN là DN do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của DN”(12] 14 DNTN là DN do 1 cá nhân làm chủ, không có tư cách pháp nhân do tài sản của công ty và chủ DN hoàn toàn tách biệt Chủ DNTN là đại diện theo pháp luật của DN, có toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động kinh doanh của DN, việc sử dụng lợi nhuận sau khi đã nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật hiện hành.