Luận văn Thạc sĩ: Quản lý nhà nước các doanh nghiệp tư nhân tại tỉnh Quảng Ngãi

Luận văn thạc sĩ kinh tế quản lý nhà nước doanh nghiệp tư nhân tại Quảng Ngãi, phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp hiệu quả.

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2019

116
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Toàn cảnh quản lý doanh nghiệp tư nhân tỉnh Quảng Ngãi

Trong cấu trúc kinh tế của bất kỳ quốc gia nào, doanh nghiệp (DN) được xem là tế bào, là đơn vị cơ bản tạo ra tổng sản phẩm xã hội. Đặc biệt, doanh nghiệp tư nhân (DNTN) đóng một vai trò quan trọng, là động lực phát triển sức sản xuất, phát huy nội lực và giải quyết các vấn đề xã hội như việc làm và giảm nghèo. Theo Luật Doanh nghiệp 2014, DNTN là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình. Tại tỉnh Quảng Ngãi, một địa phương có nhiều tiềm năng với Khu Kinh tế Dung Quất và các khu công nghiệp, sự phát triển của DNTN là yếu tố then chốt cho tăng trưởng kinh tế - xã hội. Công tác quản lý nhà nước các doanh nghiệp tư nhân (QLNN DNTN) vì thế trở nên cấp thiết. Hoạt động này không chỉ là sự tác động của nhà nước bằng hệ thống pháp luật, chính sách mà còn là việc tạo dựng một môi trường kinh doanh thuận lợi, minh bạch. Mục tiêu của QLNN DNTN là định hướng, hỗ trợ và điều tiết hoạt động của khu vực kinh tế này, đảm bảo sự phát triển bền vững, cạnh tranh lành mạnh và đóng góp hiệu quả vào ngân sách nhà nước, đồng thời tuân thủ pháp luật. Việc nghiên cứu và hoàn thiện công tác này giúp khai thác tối đa tiềm năng của DNTN, góp phần đưa kinh tế tỉnh Quảng Ngãi phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

1.1. Đặc điểm và vai trò cốt lõi của doanh nghiệp tư nhân

Một doanh nghiệp tư nhân có những đặc điểm pháp lý riêng biệt. Chủ DNTN chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của mình, có toàn quyền quyết định mọi hoạt động kinh doanh và không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào. Mỗi cá nhân chỉ được thành lập một DNTN. Những đặc điểm này tạo nên sự linh hoạt, gọn nhẹ trong bộ máy quản lý, giúp DNTN dễ dàng thích ứng với biến động thị trường. Vai trò của DNTN đối với nền kinh tế tỉnh Quảng Ngãi là vô cùng to lớn. Chúng là nơi tạo ra sản phẩm, dịch vụ đáp ứng nhu cầu xã hội, thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Hơn nữa, với tỷ suất vốn đầu tư trên lao động thấp, DNTN có hiệu suất tạo việc làm cao, góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động và khai thác hiệu quả nguồn lực tại địa phương. Sự phát triển của khu vực này còn hình thành một đội ngũ doanh nhân năng động, sáng tạo.

1.2. Ý nghĩa của quản lý nhà nước đối với DNTN Quảng Ngãi

Hoạt động quản lý nhà nước mang ý nghĩa sống còn đối với sự phát triển của cộng đồng DNTN. Nhà nước, thông qua các cơ quan chức năng, giúp doanh nghiệp giải quyết những vấn đề vĩ mô mà một cá thể không thể tự xử lý, như xây dựng cơ sở hạ tầng, cung cấp dịch vụ công, và định hướng thị trường. Quan trọng hơn, QLNN tạo ra một sân chơi bình đẳng bằng cách thiết lập môi trường pháp lý rõ ràng, ngăn chặn các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, gian lận thương mại. Bằng cách ổn định môi trường chính trị - xã hội, nhà nước tạo ra nền tảng vững chắc cho kinh tế thị trường vận hành hiệu quả. Đối với tỉnh Quảng Ngãi, một công tác quản lý nhà nước các doanh nghiệp tư nhân hiệu quả sẽ giúp thu hút đầu tư, phát huy thế mạnh của địa phương và đảm bảo các DNTN phát triển theo đúng định hướng, đóng góp vào sự thịnh vượng chung.

II. Thực trạng quản lý nhà nước DNTN tại Quảng Ngãi và thách thức

Mặc dù có nhiều nỗ lực, công tác quản lý nhà nước các doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi vẫn đối mặt với không ít thách thức và hạn chế. Báo cáo của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh cho thấy tình trạng DN tạm ngừng hoạt động và giải thể còn ở mức cao, phản ánh những khó khăn trong môi trường kinh doanh. Một trong những vấn đề lớn nhất là công tác xây dựng chiến lược, hoạch định còn nhiều bất cập, chưa thực sự phù hợp với thực tiễn và thiếu tầm nhìn dài hạn. Hệ thống chính sách, quy định dù đã được ban hành nhưng việc thực thi và phổ biến đến các DNTN còn yếu, khiến nhiều doanh nghiệp khó tiếp cận các nguồn vốn ưu đãi hay các chương trình hỗ trợ. Bộ máy quản lý còn cồng kềnh, có sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ giữa các sở, ban, ngành. Năng lực của đội ngũ cán bộ công chức trực tiếp làm công tác QLNN DNTN chưa đồng đều, đôi khi còn gây phiền hà cho doanh nghiệp. Công tác thanh tra, kiểm tra tuy cần thiết nhưng đôi khi còn trùng lặp, thiếu sự phối hợp, gây tốn kém thời gian và chi phí cho DNTN. Những hạn chế này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, cả khách quan lẫn chủ quan, đòi hỏi phải có những giải pháp đồng bộ và quyết liệt để cải thiện.

2.1. Phân tích các hạn chế trong công tác hoạch định chiến lược

Công tác hoạch định chiến lược và tạo môi trường pháp lý cho DNTN tại Quảng Ngãi chưa phát huy hết hiệu quả. Các chiến lược phát triển ngành, lĩnh vực đôi khi còn mang tính hình thức, thiếu sự liên kết với tiềm năng thực tế của địa phương. Kết quả khảo sát cho thấy nhiều chủ DNTN đánh giá rằng các văn bản chiến lược chưa được phổ biến rộng rãi và khó áp dụng vào thực tiễn. Việc xác định các ngành mũi nhọn để ưu tiên phát triển chưa rõ ràng, dẫn đến đầu tư dàn trải. Sự thiếu đồng bộ giữa quy hoạch phát triển kinh tế và quy hoạch sử dụng đất, hạ tầng cũng là một rào cản lớn, khiến doanh nghiệp gặp khó trong việc tìm kiếm mặt bằng sản xuất. Điều này làm giảm tính hấp dẫn của môi trường đầu tư tại tỉnh Quảng Ngãi.

2.2. Bất cập trong tổ chức bộ máy và chính sách hỗ trợ DNTN

Bộ máy quản lý nhà nước đối với DNTN tại Quảng Ngãi được tổ chức theo mô hình phân cấp hành chính, tuy nhiên sự phối hợp giữa các cơ quan như Sở Kế hoạch - Đầu tư, Cục Thuế, và UBND các cấp chưa thực sự nhịp nhàng. Tình trạng chồng chéo trong quản lý vẫn xảy ra, đặc biệt trong hoạt động thanh tra, kiểm tra. Các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp như hỗ trợ tiếp cận tín dụng, đào tạo nguồn nhân lực, xúc tiến thương mại đã được ban hành nhưng hiệu quả chưa cao. Nguyên nhân là do thủ tục hành chính còn rườm rà, thông tin về chính sách không đến được với các DNTN, đặc biệt là các doanh nghiệp quy mô nhỏ và siêu nhỏ ở vùng nông thôn, miền núi.

2.3. Nguyên nhân của những tồn tại trong quản lý DNTN

Các hạn chế trong công tác QLNN DNTN tại Quảng Ngãi bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân. Về mặt khách quan, sự thay đổi liên tục của pháp luật, bối cảnh kinh tế vĩ mô biến động và năng lực nội tại yếu kém của một bộ phận DNTN (vốn nhỏ, công nghệ lạc hậu, quản trị yếu) là những yếu tố cản trở. Về mặt chủ quan, nhận thức về vai trò của DNTN ở một số cấp chính quyền chưa đầy đủ. Chất lượng nguồn nhân lực trong các cơ quan quản lý nhà nước còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu. Hơn nữa, cơ chế phối hợp liên ngành chưa được quy định rõ ràng, dẫn đến thiếu trách nhiệm và hiệu quả trong việc hỗ trợ và giám sát doanh nghiệp. Việc thiếu các công cụ đánh giá, đo lường hiệu quả quản lý cũng khiến cho các chính sách khó được điều chỉnh kịp thời.

III. Giải pháp hoàn thiện chính sách và môi trường pháp lý DNTN

Để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước các doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, việc hoàn thiện hệ thống chính sách và môi trường pháp lý là nhiệm vụ trọng tâm. Các giải pháp cần tập trung vào việc xây dựng một khung pháp lý minh bạch, ổn định và có tính dự báo cao. Điều này không chỉ tạo niềm tin cho nhà đầu tư mà còn định hướng cho các DNTN phát triển bền vững. Cần rà soát, sửa đổi và bổ sung các quy hoạch, kế hoạch phát triển DNTN sao cho phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội chung của tỉnh và của cả nước. Các chính sách phải được xây dựng dựa trên cơ sở phân tích, đánh giá tác động kỹ lưỡng, có sự tham gia góp ý của cộng đồng doanh nghiệp. Việc công khai, minh bạch hóa thông tin về quy hoạch, chính sách và thủ tục hành chính là yếu tố then chốt. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật để nâng cao nhận thức và ý thức tuân thủ của các chủ DNTN, giúp họ tận dụng tối đa các cơ hội và chính sách hỗ trợ của nhà nước. Đây là nền tảng để tạo ra một môi trường kinh doanh thực sự bình đẳng và cạnh tranh.

3.1. Đổi mới công tác hoạch định chiến lược phát triển DNTN

Công tác hoạch định chiến lược cần được đổi mới theo hướng thực chất và có tầm nhìn xa. Tỉnh Quảng Ngãi cần xây dựng chiến lược phát triển DNTN đến năm 2030, trong đó xác định rõ các ngành, lĩnh vực ưu tiên dựa trên lợi thế cạnh tranh của tỉnh như công nghiệp nặng, lọc hóa dầu, nông nghiệp công nghệ cao và du lịch biển. Chiến lược phải bao gồm các mục tiêu cụ thể về số lượng, quy mô và chất lượng DNTN, đi kèm với lộ trình và nguồn lực thực hiện rõ ràng. Quá trình xây dựng chiến lược phải có sự tham vấn rộng rãi từ các chuyên gia, hiệp hội doanh nghiệp và chính các chủ DNTN để đảm bảo tính khả thi và phù hợp với thực tiễn.

3.2. Xây dựng và thực thi hiệu quả chính sách hỗ trợ DNTN

Nhà nước cần xây dựng các nhóm chính sách hỗ trợ doanh nghiệp một cách đồng bộ. Nhóm giải pháp về tài chính cần tạo điều kiện cho DNTN tiếp cận các nguồn vốn ưu đãi thông qua Quỹ bảo lãnh tín dụng, Quỹ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nhóm chính sách về công nghệ cần hỗ trợ DNTN đổi mới máy móc thiết bị, ứng dụng khoa học kỹ thuật. Quan trọng nhất là phải đơn giản hóa thủ tục hành chính để các chính sách này thực sự đi vào cuộc sống. Cần thiết lập một cổng thông tin điện tử duy nhất, tập trung tất cả các chính sách, quy định và thủ tục liên quan đến DNTN, giúp doanh nghiệp dễ dàng tra cứu và tiếp cận.

IV. Tối ưu hóa bộ máy quản lý và các chương trình hỗ trợ DNTN

Song song với việc hoàn thiện chính sách, việc tối ưu hóa bộ máy quản lý và nâng cao hiệu quả các chương trình hỗ trợ là giải pháp mang tính đột phá cho công tác quản lý nhà nước các doanh nghiệp tư nhân. Một bộ máy quản lý tinh gọn, hiệu quả, hoạt động trên nguyên tắc phục vụ sẽ là đòn bẩy thúc đẩy sự phát triển của khu vực DNTN. Điều này đòi hỏi phải có sự cải cách mạnh mẽ về tổ chức, phân định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, tránh sự chồng chéo và xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành hiệu quả. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức là yếu tố quyết định. Cần thường xuyên tổ chức các khóa đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng quản lý và đạo đức công vụ. Đồng thời, các chương trình hỗ trợ DNTN cần được thiết kế lại theo hướng thực chất, tập trung vào các nhu cầu thiết yếu của doanh nghiệp như đào tạo quản trị, xúc tiến thương mại, và hỗ trợ pháp lý. Việc phát huy vai trò của các hiệp hội doanh nghiệp như một cầu nối giữa chính quyền và DNTN sẽ giúp các chính sách và chương trình hỗ trợ đi đúng hướng và đạt hiệu quả cao hơn.

4.1. Tái cấu trúc bộ máy quản lý nhà nước theo hướng hiệu quả

Cần rà soát và kiện toàn lại bộ máy quản lý nhà nước đối với DNTN tại tỉnh Quảng Ngãi. Nên thành lập một bộ phận chuyên trách hoặc một đầu mối duy nhất chịu trách nhiệm theo dõi, hỗ trợ và giải quyết các vấn đề của DNTN, hoạt động theo cơ chế “một cửa liên thông”. Cần ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin vào quản lý, xây dựng cơ sở dữ liệu chung về DNTN để các cơ quan có thể chia sẻ thông tin, phục vụ cho công tác hoạch định chính sách và quản lý. Việc phân cấp quản lý cho chính quyền cấp huyện, xã cần đi đôi với việc tăng cường năng lực và quy định rõ trách nhiệm để đảm bảo quản lý sát với thực tế hơn.

4.2. Triển khai các chương trình khuyến khích hỗ trợ thiết thực

Các chương trình hỗ trợ cần tập trung vào các lĩnh vực mà DNTN đang yếu và thiếu. Cụ thể, tổ chức các khóa đào tạo về quản trị doanh nghiệp hiện đại, marketing, quản lý tài chính cho các chủ DNTN. Tăng cường các hoạt động xúc tiến thương mại, kết nối thị trường, giúp DNTN Quảng Ngãi mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm cả trong và ngoài nước. Xây dựng chương trình hỗ trợ pháp lý miễn phí hoặc chi phí thấp cho các DNTN mới thành lập. Đặc biệt, cần khuyến khích và hỗ trợ các DNTN khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, ứng dụng công nghệ cao để tạo ra các sản phẩm có giá trị gia tăng lớn.

V. Nâng cao hiệu quả thanh tra giám sát DNTN tỉnh Quảng Ngãi

Hoạt động thanh tra, kiểm tra là một nội dung quan trọng trong quản lý nhà nước các doanh nghiệp tư nhân, nhằm đảm bảo pháp chế và thiết lập kỷ cương trong hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, để hoạt động này thực sự hiệu quả và không gây cản trở cho doanh nghiệp, cần có sự đổi mới căn bản. Mục tiêu của thanh tra, kiểm tra không chỉ là phát hiện và xử lý vi phạm mà còn là phòng ngừa, hướng dẫn và hỗ trợ DNTN tuân thủ đúng pháp luật. Do đó, cần chuyển từ phương thức quản lý tiền kiểm sang hậu kiểm, áp dụng nguyên tắc quản lý rủi ro. Các cơ quan chức năng của tỉnh Quảng Ngãi cần xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra hàng năm và công khai để tránh trùng lặp, chồng chéo. Nội dung kiểm tra cần tập trung vào các lĩnh vực có nguy cơ vi phạm cao như thuế, môi trường, lao động. Việc xử lý vi phạm phải đảm bảo tính nghiêm minh, công bằng, công khai và minh bạch. Đồng thời, cần thiết lập các kênh tiếp nhận và giải quyết khiếu nại, tố cáo của DNTN một cách nhanh chóng và hiệu quả, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp.

5.1. Đổi mới phương thức kiểm tra thanh tra và giám sát DNTN

Cần xây dựng một cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan có chức năng thanh tra, kiểm tra (Thuế, Quản lý thị trường, Môi trường, Lao động) để thống nhất kế hoạch và nội dung. Ưu tiên áp dụng công nghệ thông tin trong việc thu thập dữ liệu và phân tích rủi ro, chỉ tiến hành kiểm tra trực tiếp tại các DNTN có dấu hiệu vi phạm rõ ràng. Đối với các DNTN tuân thủ tốt, cần có cơ chế khuyến khích, thay vì kiểm tra tràn lan. Hoạt động giám sát không chỉ đến từ cơ quan nhà nước mà cần phát huy vai trò của xã hội, công luận và các hiệp hội ngành nghề trong việc giám sát hoạt động của DNTN.

5.2. Đảm bảo minh bạch trong xử lý vi phạm và giải quyết khiếu nại

Quy trình xử lý vi phạm pháp luật của DNTN phải được chuẩn hóa và công khai. Mọi quyết định xử phạt phải dựa trên các căn cứ pháp lý rõ ràng, tránh tùy tiện và nhũng nhiễu. Cần thành lập một bộ phận chuyên trách hoặc đường dây nóng để tiếp nhận, xử lý kịp thời các phản ánh, kiến nghị và khiếu nại của DNTN liên quan đến hoạt động quản lý nhà nước. Việc giải quyết khiếu nại nhanh chóng và thỏa đáng không chỉ bảo vệ doanh nghiệp mà còn củng cố niềm tin của cộng đồng kinh doanh vào môi trường pháp lý của tỉnh Quảng Ngãi.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ kinh tế quản lý nhà nước các doanh nghiệp tư nhân trên đại bàn tỉnh quảng ngãi

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I. Cơ sở lý luận cơ bản về QLNN các DNTN. Thực trạng QLNN các DNTN trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi. Một số giải pháp QLNN các DNTN trên địa bàn tỉnh Quảng Ngai.

Tổng quan tài liệu Để thực hiện đề tài này, tác giả đã nghiên cứu một số nội dung về QLNN. nói chung, quản lý DN, DNTN, DNNVV. của các tác giả đã nghiên cứu về vấn đề này. Những tài liệu chủ yếu mà tác gải đã nghiên cứu đó là: Nguyễn Hồng Sơn, Phan Huy Đường (2013), giáo trình “Khoa học quản lý", NXB Đại học Quốc Gia, Hà Nội.

Giáo trình đưa ra những khái niệm cơ bản, vai trò, yêu về quản lý, quản lý kinh doanh nói riêng. Ngoài ra, tác giả thêm các thuyết quản lý của các trường pháp khác nhau. Đồng thời nêu lên những chức năng quản lý DN ứng dụng vào thực tế. Giáo trình cung cấp những khái niệm cu thé để xây dựng cơ sở lý luận tạo tiền đề để phân tích các.

vấn đề trong luận văn. Đỗ Hoàng Toàn, Mai Văn Bưu (2005), giáo trình “Quán jý nhà nước. về kinh , NXB Đại học kinh tế Quốc dân, Hà Nội. Giáo trình cung cấp những kiến thức lý luận, khái quát cơ bản, có tính hệ thống của một môn khoa học về việc nhà nước quản lý nền kinh tế quốc dân của nhà nước.

Bên cạnh đó, đề cập đến những quy luật và nguyên tắc, công cụ và phương pháp, mục tiêu và chức năng của công tác QLNN về kinh tế. Ngoài ra, nội dung giáo trình nhằm cung cấp cho tác giả có những kiến thức cơ bản, hiện đại, Việt Nam trong lĩnh vực QLNN vẻ kinh tế. Phan Huy Đường (2015), giáo trình “Quản lý Nhà nước về kinh tẾ”, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội. Giáo trình cung cấp khái quát hoá các khái niệm, phạm trù, các yếu tố, bộ phận cấu thành, các chức năng, nguyên tắc, phương pháp, tô chức bộ máy, thông tin và quyết định quản lý và cán bộ.

công chức QLNN về kinh tế. Ngô Huy Cương (2010), “Vài bình luận về pháp luật DNTN”, bài viết nêu về các vấn đề pháp lý của DNTN, cơ chế vận hành quản trị DNTN. Bên cạnh đó, bài viết còn tập trung vào việc tìm ra các bất cập của pháp luật về 10 DNTN. Tuy nhiên bài viết không đi sau vào nội dung QLNN đi ới DNTN cu thé, chỉ đi sâu vào pháp luật của DNTN.

Nguyễn Quốc Nghỉ và Mai Văn Nam, bài “Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của DNNVV ở thành phố Cần Thơ” nghiên cứu nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh cia DNNVV 6 Thanh phó Cần Thơ. Tác giả sử dụng phương. pháp thống kê mô tả và phân tích hồi qui tuyến tính đa biến được sử dụng trong nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các nhân tố mức độ tiếp cận chính sách hỗ trợ của Chính phủ, trình độ học vấn của chủ DN, quy mô DN, các mối quan hệ xã hội của DN và tốc độ tăng doanh thu ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của DNNVV ở Thành phố Cần Thơ.

Bài viết phân tích khá rõ về tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến DN, tuy nhiên chưa phân tích rõ về các nội dung QLNN đối với DN như: hoạch định phát triển DN, phổ ến tuyên truyền chính sách quy định, bộ máy quản lý, thanh tra kiểm tra DN. Nguyễn Hoàng Dũng (2013), “Tăng cường hiệu lực của công tác QLNN. đối với DNNVV trên địa bàn Quận Hai Bà Trưng, Hà Nội”. Luận văn làm rõ hệ thống cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn, thực trạng QLNN đối với DNNVV.

Trên cơ sở phân tích thực trạng và xuất phát từ việc nghiên cứu các quan điểm, định hướng về phân cấp QLNN cho cấp quận, đã đề xuất các giải pháp hoàn thiện vai trò QLNN đối với DNNVV trong thời gian tới. Phạm Thị Ngọc Ánh (2010), “QLNN đối với DNTN”, Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội. Bài viết phân tích thực trạng và nêu ra được những hạn chế, nguyên nhân cản trở việc thành lập và phát triển của các DN, rút ra những đánh giá tổng quát về tình hình quan ly DN, cơ chế chính sách phát triển DN trên địa bàn TP Đà Nẵng thời gian qua. Bên cạnh đó đề xuất giải pháp đôi mới QLNN đối với doanh sau đăng ký thành lập trên địa bàn TP Đà Nẵng 11 trong những năm đến.

Tuy nhiên bài viết chưa nêu rõ được bộ máy quản lý phát triển DN, chưa nêu được cụ thể về thực trạng tuyên truyền chính sách quy định phát triển DN ở địa phương. Nguyễn Thị Uyên (2016), “QLNN đối với DNTN trên địa bàn Quận Hà Đông - Hà Nội. Luận văn đã hệ thống hóa những lý luận cơ bản trong hoạt động QLNN đối với các DNTN và nêu bậc được thực trạng về quản lý DNTN tại Quận Hà Đông - Hà Nội. Tuy nhiên, bài viết chưa nêu được thực trạng và giải pháp về quy hoạch, định hướng, tạo môi trường pháp lý cho DNTN.

Đỗ Đình Chuyền (2015), “QLNN đối với DN trên địa bàn Thành phó Hà Nội”. Luận văn làm rõ cơ sở lý luận, thực trạng QLNN đối với DN trên địa bàn thành phó Hà Nội, bên cạnh đó nêu rõ những giải pháp cụ thé dé phat triển DN. Tuy nhiên, luận văn chưa nêu rõ được thực trạng về bộ máy quản lý phát triển DN tại địa phương. Hoàn Yến (2013), “Địa vị pháp lý của DNTN trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay”.

Luận văn làm rõ cơ sở lý luận, thực trạng về địa vị pháp lý trong hệ thống pháp luật và trên thực tế của DNTN ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, từ đó đề ra các giải pháp để hoàn thiện địa vị pháp lý của DNTN. Cao Sỹ Kiêm, “DNNVV: Thực trạng và giải pháp hỗ trợ năm 2013”, bài viết nghiên cứu về thực trạng hoạt động của DNNVV và những hạn chế é tiếp cận các chính sách của Nhà nước. Nguyễn Hồng Sơn, Phan Huy Đường, giáo trinh “Khoa hoc quan lý", NXB Đại học Quốc Gia, Hà Nội (2013). Giáo trình cung cấp cho người đọc những khái niệm cơ bản, vai trò, yêu cải quản lý và quản lý kinh doanh Ngoài ra, còn giúp người đọc biết thêm các thuyết quản lý của các trường phái khác nhau để ứng dụng vào thực tiễn.

Đồng thời nêu lên những chức năng quản lý doanh nghiệp, 12 Nguyễn Thế Quyền (2009), “Giải pháp tăng cường hiệu lực, hiện quả QUNN đối với các DN”, Tạp chí QLNN, số 158. 'Vũ Đức Dũng (2009), “Phát triển DNTN ở tỉnh Ninh Bình trong giai đoạn hiện nay, Tạp chí QLNN, số 164. Với tình hình nghiên cứu đề tài trên cho thấy việc phát triển DN ở thành phó, tỉnh thì công tác QLNN phải đặt lên hàng đầu, đòi hỏi phải có sự tham gia tích cực, đồng bộ không chỉ của các cơ quan nhà nước cấp trung ương mà có sự tham gia nỗ lực của các cơ quan quản lý cấp tỉnh, huyện. Các nghiên cứu trên đã tập trung vào nghiên cứu vấn đề QLNN đối với DN, DNNVV, DNTN đánh giá về thực trạng của DN.

Bên cạnh đó nêu thực. trạng thực hiện QLNN các DNTN, DNNVV dựa trên các nguồn dữ liệu phong phú, đa dạng do các nhà khoa học, điều tra nghiên cứu được, kết hợp với các nguồn thông tin thu thập trực tiếp từ DN. Tuy nhiên, các nghiên cứu trên vẫn chưa đề cập cụ thê đến các yếu tố tác động, nội dung, thực trạng quản lý DNTN trên một địa bàn tỉnh và các giải pháp nhà nước cần thiết để thực thi chính sách. Các vấn đề cơ sở lý luận về QLNN các DNTN đã được các tác giả nghiên cứu khá kỹ và đề tài không tiếp tục nghiên cứu; tác động của các yếu tố đến hoạt động quản lý DNTN; những vấn đề như việc hoạch định, công tác tuyên truyền chính sách quy định, tổ chức bộ máy quản lý, công tác thanh tra kiểm tra, xử lý vi phạm dé phát triển DNTN và giải pháp quản lý DNTN.vẫn có thể tiếp tục để phát triển nghiên cứu vì theo mà bản thân tác giả cho là khá quan trọng đặc biệt trong giai đoạn hiện nay.

Do vậy, bản thân lựa chọn hướng nghiên cứu đề tài về những vấn đề lý luận về QLNN các DNTN; thực trạng về quản lý DNTN trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, đưa ra các giải pháp hoàn thiện về các chính sách QLNN đối với DNTN trên địa bàn tinh trong thời gian tới để hoàn chinh nghiên cứu của mình 13 CHUONG 1 MOT SO VAN DE LY LUAN CO BAN VE QUAN LY DOANH NGHIỆP TU NHÂN 1. KHÁI QUÁT VỀ QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP. Một số khái niệm Doanh nghiệp Hiện nay có khả nhiều định nghĩa về DN, mỗi định nghĩa đều mang nội dung nhất định với một giá trị nhất định, ở mỗi cách tiếp cận khác nhau sẽ có những quan điểm về DN khác nhau. DN là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh thu lợi nhuận.

DN Việt Nam là DN được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo pháp luật Việt Nam và có trụ sở chính đặt tại Việt Nam. Năm 1994, Luật DN được thông qua đã có những quy định cụ thể và chỉ tiết hơn về DNTN. Qua nhiều giai đoạn, và liên tục sửa đổi bỗ sung để phù hợp với tình hình phát triển, đến nay Luật DN 2014 gần như đã hoàn thiện các điều khoản cần thiết cho DNTN thành lập và hoạt động. Luật DN 2014 vừa tiếp tục kế thừa, luật hóa những quy định phù hợp đã và đang đi vào cuộc sống của Luật DN 2005, nhưng đồng thời đã sửa đổi, bỗ sung nhiều quy định mới nhằm tháo gỡ những hạn ché, bat p Luật 2005 và tiếp tục tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, phù hợp với thông lệ quốc tế.

Doanh nghiệp tư nhân Luật DN năm 2014 quy định: “DNTN là DN do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của DN”(12] 14 DNTN là DN do 1 cá nhân làm chủ, không có tư cách pháp nhân do tài sản của công ty và chủ DN hoàn toàn tách biệt Chủ DNTN là đại diện theo pháp luật của DN, có toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động kinh doanh của DN, việc sử dụng lợi nhuận sau khi đã nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật hiện hành.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ