Chương 1. Cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực - Chương 2. Thực trạng phát triển nguồn nhân lực ngành y tế tỉnh Quảng. Nam thời gian qua - Chương 3.
Một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực ngành y tế tỉnh Quảng Nam trong thời gian đến. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Phát triển nguồn nhân lực y tế là một nhiệm vụ quan trọng của ngành y tế. Trong những năm qua, vấn đề phát triển nguồn nhân lực ngành y tế đã có nhiều công trình nghiên cứu của nhiều tác giả đề cập. Các công trình nghiên cứu đều nhấn mạnh về tầm quan trọng của phát triển nguồn nhân lực y tế, đồng thời đưa ra những kiến nghị khoa học về các định hướng và giải pháp đối với vấn đề này.
Nhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy những vấn đề phát triển nguồn nhân lực ngành y tế có tính đặc thù, còn nhiều bất cập cần điều chinh kịp thời. Liên quan đến nội dung này đã có nhiều công trình, tác giả đi sâu nghiên cứu, nôi bật phải kể đến một số công trình nghiên cứu sau: 4a. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực. Theo Liên hiệp Quốc thì “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và đất nước”.
Quan điểm của các nhà nghiên cứu chương trình phát triển liên hiệp quốc (UNDP - United Nations Development programme) trong Báo cáo phát triển con người cho rằng: “Phát triển nguồn nhân lực chịu sự tác động của các nhân tố: Giáo dục - đào tạo, sức khỏe và dinh. dưỡng, môi trường việc làm và sự giải phóng con người. Trong quá trình tác động đến sự phát triển nguồn nhân lực, những nhân tố này luôn gắn bó, hỗ trợ và lệ thuộc lẫn nhau, trong đó, giáo dục - đào tạo là nhân tố nền tảng, là cơ sở vật chất của các nhân tố khác. Nhân tố sức khỏe và dinh dưỡng, môi trường việc làm và sự giải phóng con người là những nhân tố thiết yếu, nhằm duy trì và đáp ứng sự phát triển bền vững nguồn nhân lực.
Nền sản xuất càng phát triển, thì phần đóng góp của trí tuệ thông qua giáo dục - đào tạo ngày càng chiếm tỷ trọng lớn so với đóng góp của các yếu tố khác trong cơ cấu giá trị sản xuất”. Quan điểm sử dụng năng lực con người của tô chức lao động quốc tế (ILO — Intemational Labour Organization) cho rằng: “Phát triển nguồn nhân lực bao hàm không chỉ sự chiếm lĩnh trình độ lành nghề, mà bên cạnh phát triển nguồn nhân lực là làm cho con người có nhu cầu sử dụng năng lực đó để tiến đến có được việc làm hiệu quả cũng như thỏa mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân. Phát triển nguồn nhân lực trong các tổ chức quy mô nhỏ - nghiên cứu và thực tiễn do Jim Stewart và Graham Beaver chủ biên (2004). Cuốn sách gồm có 3 phần: Phần I nêu lên những gợi ý trong việc thiết kế và thực hiện nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực.
Phần II gồm những bài trình bày kết quả nghiên cứu về các cách tiếp cận để phát triển nguồn nhân lực trong các tô chức quy mô nhỏ. Phần III đề cập đến các phương pháp phát triển nguồn nhân lực mà các tô chức quy mô nhỏ thường áp dụng và thực hành. Đã có nhiều nghiên cứu về phương pháp luận và nội dung phát triển nguồn nhân lực đã được công bó. Tiêu biểu nhất có thể kể đến là các tác giả: Charles Cowell va c6ng su, W.clayton Allen va Richad A.
Swanson, Timothy Mc Clernon va Paul B. Cac nghién ciru nay déu théng nhat “M6 hình đào tạo mang tính hệ thống gồm phân tích, thiét ké, phát triển, thực hiện, và đánh giá (ADDIE) ” được sử dụng trên 30 năm qua trên thế giới là những nội dung cốt lõi của phát triển nguồn nhân lực. “Nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực y tế” (2001) của Giáo sư Prawase Wasi, Đại học Mahidol- Thái Lan, đã xác định tầm quan trọng của việc đào tạo cho nguồn nhân lực y tế và việc phát triển nguồn nhân lực y tế gắn liền với phát triển hệ thống y tế phục vụ cho nhu cầu đổi mới. Phát triển hệ thống y tế và phát triển nguồn nhân lực y tế phải dựa trên nền tảng tri thức, hay các công trình nghiên cứu khoa học rất cần thiết trong việc hoạch định chính sách.
“Nguôn nhân lực y tế: Kinh nghiệm của Thái Lan ” (2002) của tiến sĩ Somsak Chunharas- Viện nghiên cứu hệ thống y tế Thái Lan. Thái Lan đã trải qua quá trình lập kế hoạch phát triển nguồn nhân lực y tế hơn 20 năm, kinh nghiệm này cùng với nỗ lực trong việc dự báo nhu cầu về số lượng nhân lực y tế đã giải quyết tốt tình hình nguồn nhân lực y tế tại Thái Lan. Việc nghiên cứu về các khía cạnh nâng cao chất lượng nguồn nhân lực giúp các nhà hoạch định chính sách phát triển nguồn nhân lực y tế có cái nhìn tốt hơn vào các vấn đề thật sự cần thiết của việc phát triển nguồn nhân lực. Tình hình nghiên cứu trong nước Nguồn nhân lực là nguồn lực quan trọng trong sự phát triển mỗi địa phương, của mỗi ngành và tổ chức.
Cùng với tiến bộ của khoa học công nghệ thì nguồn lực này càng quan trọng đối với sự phát triển. Ở Việt Nam đã có nhiều người quan tâm và nghiên cứu về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực theo nhiều giác độ khác nhau. Chính vì thế, thời gian qua đã có lều công trình nghiên cứu, nhiều luận văn tốt nghiệp đẻ cập đến vấn đề nay. Cụ thể, một số đề tài, tài liệu ngiên cứu về phát triển nguồn nhân lực hoặc có liên quan đến vấn đề này như: - GS.TS V6 Xuan Tiến trong bài báo: “Một số ấn đề về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực” trên tạp chí khoa học và công nghệ, Đại học Đà Nẵng, đã đưa ra nhiều quan điểm, khái niệm khác nhau về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực.
Bên cạnh đó, nghiên cứu đã làm rõ luận điểm phát triển nguồn nhân lực, nâng cao năng lực và động lực thúc đây nguồn nhân lực.TS Phạm Thành Nghị: "Nâng cao hiệu quả quản lý NNL trong quá trình công nghiêp hóa, hiện đại hóa đất nước", Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội 2006. Quyền sách đã hệ thông hóa những vắt lý luận cơ bản, những nhận thức mới và hiện đại về quản lý NNL như vấn đề vốn con người về phát triển vốn con người; các mô hình quản lý NNL; các yếu tố tác động đến quản lý NNL. Những lý giải của tác giả về những vấn đề trên là rất rõ ràng, mạch lạc và có sức thuyết phục. Bên cạnh đó, quyền sách còn trình bày.
những kinh nghiệm quản lý NNL của các nước phát triển như Hoa Kỳ, thụy Điển. các tư liệu này có giá trị tham khảo rất tốt đối với quản lý NNL ở Việt Nam trong quá trình đổi mới. Ngoài ra quyền sách đã có kiến nghị áp dụng những mô hình quản lý NNL cho phù hợp thay thế cho các mô hình đã lạc hậu, đồng thời cũng đề xuất hệ thống những quan điểm và giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả quản lý NNL trong ba khu vực: hành chính nhà nước, sự nghiệp và sản xuất kinh doanh; các đề xuất này khá toàn diện, đồng bộ, có cơ sở khoa học và có tính khả thi. - T§ Vũ Bá Thể trong quyền sách: “Phát huy nguồn lực con người để công nghiệp hóa, hiện đại hóa: Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam”, Nhà xuất bản Lao động - Xã hội, Hà Nội năm 2005.
Tác giả đã khái quát về kinh nghiệm một số nước trong việc phát huy nguồn lực con người để phát triển kinh tế. Đồng thời, nêu lên những thực trạng NNL ở nước ta trong những năm qua đã làm rõ thực trạng số lượng và chất lượng NNL nước ta trong đó tập trung phân tích những ưu điểm, hạn chế và xu hướng của NNL Việt Nam trong bối cảnh phát triển kinh tế xã hội của nước ta; đồng thời từ đó, rút ra những thành tựu, hạn chế và những nguyên nhân của chúng. Từ đó có những định hướng và những giải pháp phát huy nguồn lực con người để công nghiệp hóa và hiện đại hóa trong thời gian tới ~ Ngoài ra còn một số đề tài luận văn có liên quan đến vấn đề phát triển NNL trong một ngành hoặc một địa phương: Nguyễn Thị Lan, (2007), "Nng cao chất lượng nguồn lao động nhằm phát triển kinh tế xã hội ở TP. Đà Nẵng", Luận văn thạc sĩ, Đà Nẵng; Lê Văn Kỳ, (2004), "Phát triển NNL và giải quyết việc làm ở Thanh Hóa", Luận văn thạc sĩ, Hà Nội.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nêu trên đã nghiên cứu về NNL ở các khía cạnh, phạm vi khác nhau. Các công trình đó cũng đã chỉ ra những thành tựu, hạn chế; đưa ra nhiều vấn đề cần quan tâm và những giải pháp góp phần thực hiện có hiệu quả việc phát triển NNL trong một số ngành, lĩnh vực. Đối với lĩnh vực y tế, cũng đã có nhiều nghiên cứu nhằm phát triển nhân lực trong lĩnh vực này như: - Bộ Y tế (2007), “Quy hoạch phát triểnmạng lưới khám bệnh đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020", Đề án, Hà Nội; Bộ Y tế (2009), “Quy hoạch phát triển nhân lực và hệ thống đào tạo y tế đến năm 2020", Đề án, Hà Nội. Ngoài ra, Viện Chiến lược và Chính sách y tế, thuộc bộ Y tế (2011) có công trình nghiên cứu “Quản lý nguôn nhân lực y tế trong thời kỳ CNH - HĐH đất nước”, là một nhánh của đề tài cấp nhà nước KX-05-11.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các nhà quản lý ở các cấp Bộ Y tế (Vụ Tổ chức cán bộ, Vụ Kế hoạch, Vụ Khoa học- Đào tạo); Một số lãnh đạo các Sở Y tế Bắc Ninh, Thanh Hoá, Đà Nẵng, Đồng Nai; Cán bộ quản lý một số đơn vị y Bác sĩ và nhân viên y tế làm việc tại các cơ sở y tế các cấp. Đề tài đã nêu lên những điều bắt cập, những khó khăn trong công tác quản lý nguồn nhân lực y tế ở các cấp (trung ương, địa phương), các khu vực (khám chữa bệnh, dự phòng, đào tạo, công lập và ngoài công lập .); Các điểm chưa hợp lý trong các chính sách có liên quan đến quản lý nguồn nhân lực.