Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực trong tô chức, đoanh nghiệp - Chương 2: Thực trạng phát triển nguồn nhân lực của Công ty TNHH hoa cảnh Ngọc Duy - Chương 3: Giải pháp phát triển nguồn nhân lực của Công ty TNHH hoa cảnh Ngọc Duy đến 2015 và tầm nhìn đến năm 2020 - Kết luận - Tài liệu tham khảo Chương Í CƠ SỞ LÝ LUẬN VE PHAT TRIỀN NGUÒN NHÂN LỰC TRONG TÔ CHỨC, DOANH NGHIỆP 1. MỘT SÓ KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1. Nhân lực Nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động.
Nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này bao gồm thẻ lực, trí lực và nhân cach. Nhân lực, theo nghĩa gốc, là sức người. Sức người bao hàm cả sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thân. Không nên hiểu sức người chỉ ở mặt tài mà bao hàm cả mặt đức.
đó là cái gốc của con người. Theo cách tiếp nhận này, thể lực chỉ sức khoẻ của thân thẻ, nó phụ thuộc vào sức vóc, tình trạng sức khoẻ của mỗi người, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ làm việc nghỉ ngơi, chế độ y tế. Ngoài ra, thể lực con người còn phụ thuộc vào tuôi tác, thời gian công tác, giới tính,. Trí lực chỉ sức suy nghĩ, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu cũng như quan điểm, lòng tin, nhân cách của từng người.
Nhân lực được hiểu là toàn bộ các khả năng về thể lực và trí lực của con người được vận dụng ra trong quá trình lao động sản xuất. Nhân lực của doanh nghiệp bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong doanh nghiệp. Nguồn nhân lực Đến nay có rất nhiều quan niệm về nguồn nhân lực thẻ hiện dưới nhiều góc độ khác nhau, đó là; Nguồn nhân lực là nguồn lực con người. Nguồn lực đó được xem xét ở hai khía cạnh.
Trước hết, với ý nghĩa là nguồn góc, là nơi phát sinh ra nguồn lực. Nguồn nhân lực nằm ngay trong bản thân con người, đó là sự khác nhau cơ bản giữa nguồn lực con người và các nguồn lực khác. Thứ hai, nguồn nhân lực là tổng thể nguồn lực từng cá nhân con người. Với tư cách là nguồn lực của quá trình phát triển, nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định.
[trang 12: 2] Khái niệm nguồn nhân lực được sử dụng rộng rãi ở các nước có nên kinh tế phát triển từ những năm giữa thế kỷ XX, với ý nghĩa là nguồn lực con người thể hiện một sự nhìn nhận lại về vai trò yếu tố con người trong quá trình phát triển. Nội dung của nó không chỉ bao hàm những người trong độ tuôi lao động có khả năng lao động, cũng không chỉ bao hàm về mặt chất lượng mà còn chứa đựng các hàm ý rộng hơn. Theo cách tiếp cận của Liên hợp quốc, nguồn nhân lực là tất cả kiến thức, kỹ năng và năng lực của con người có quan hệ tới sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Nguồn nhân lực là nguồn lực cơ bản của mỗi quốc gia, là tông thé tiềm năng lao động của con người.
Theo Begg, Fircher và Dornbush, khác với nguồn lực vật chất khác, nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích lũy được, nó được đánh giá cao vì tiềm năng đem lại thu nhập trong tương lai. Nguồn nhân lực là con người lao động có nhân cách (có tri thức, kỹ năng nghề nghiệp và hoạt động xã hội, có phẩm chất tâm lý như động cơ, thái độ ứng xử với các tình huống trong cuộc sống), có khả năng tích lũy kinh nghiệm nghè nghiệp và vốn sống. Theo Bộ Luật Lao động Việt Nam, nguồn nhân lực trong xã hội bao gồm những người trong độ tuôi lao động và ngoài độ tuôi lao động nhưng có khả năng hoặc sẽ tham gia lao động. Ở nước ta, khái niệm nguồn nhân lực được sử dụng rộng rãi từ những năm bắt đầu công cuộc đổi mới.
Điều này được thẻ hiện rõ trong các công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực. Nguồn nhân lực cần được hiểu là dân số và trí tuệ, năng lực, phẩm chất và đạo đức của người lao động. Nó là tổng thể nguồn nhân lực hiện có thực tế và tiềm năng được chuẩn bị sẵn sàng dé tham gia phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia hay một địa phương nào đó. Nguồn nhân lực là khái niệm có nội hàm phong phú hơn khái niệm nhân lực, nguồn nhân lực là tông thẻ các yếu tô vẻ thể chất và tinh thần (phẩm chất đạo đức, trình độ tri thức, học vấn, nghè nghiệp .) tạo thành năng lực của con người (cá nhân và cộng đồng) với tư cách chủ thẻ hoạt động có thê huy động, khai thác đề thúc đây sự phát triển của xã hội.
Nguồn nhân lực nói lên tiềm năng của con người cả về lượng (quy mô dân số, cơ cầu độ tuổi, phân bố dân cư.) và chất (tông hợp những đặc trưng về thẻ lực, trí lực, tay nghề, phẩm chất chính trị, tư tưởng.) có thê huy động, khai thác đề phục vụ sự nghiệp Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. [ I ] Với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội thì nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động, không phân biệt người đó đang phân bố vào ngành nghề, lĩnh vực, khu vực nào và có thể coi đây là nguồn nhân lực xã hội. Với tư cách là khả năng đảm đương lao động chính của xã hội thì nguồn nhân lực được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân cư trong độ tuôi lao động có khả năng lao động. Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thẻ lực và trí lực.[ 15] Xét về tông thể, nguồn nhân lực là tiềm năng lao động của con người trên các mặt số lượng, cơ cau (nganh nghề, trình độ đào tạo, cơ cấu vùng miền, cơ cầu ngành kinh tế) và chất lượng.
bao gồm phẩm chất và năng lực (trí lực, tâm lực, thể lực, kỹ năng nghề nghiệp) đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội trong phạm vi quốc gia, vùng lãnh thé, địa phương hay ngành, và năng lực cạnh tranh trong phạm vi quốc gia và thị trường lao động quốc tế.[25] Như vậy, các quan niệm về nguồn nhân lực tuy khác nhau ở cách tiếp cận nhưng khái quát nhất, có thể hiểu nguồn nhân lực là một phạm trù đùng để chỉ sức mạnh tiềm ấn của dân cư, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai. Sức mạnh và khả năng đó được thẻ hiện thông qua số lượng, chất lượng, cơ cấu dân số. Với các quan niệm trên, nguồn nhân lực bao gồm 3 yếu tố cơ bản: Số lượng, chất lượng, co cau. - Số lượng nguồn nhân lực trong tô chức: thê hiện quy mô của tô chức, số lượng nhân viên càng đông, quy mô tổ chức càng lớn và ngược lại số lượng ít, quy mô tô chức nhỏ.
- Cơ cầu nguồn nhân lực trong tổ chức: thể hiện tính đa dạng cơ cấu nguồn nhân lực trong tô chức qua trình độ học vấn, độ tuổi, giới tính, học hàm, học vị. Tính đa dạng cơ cấu ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và sức mạnh của nguồn nhân lực trong tô chức. - Chất lượng nguồn nhân lực trong tô chức: chất lượng nguồn nhân lực được hiểu là năng lực của họ trong công việc và cuộc sống. Năng lực của nhân viên thông thường được đánh giá qua các tiêu chí sau: Trí lực, thể lực và đạo đức.
+ Trí lực: là tất cả những gì thuộc về trí tuệ, tinh thần, năng lực chuyên môn, khả năng sử dụng chuyên môn trong công việc, giá trị và phẩm chất của nhân viên trong tô chức. + Thể lực: là sức khoẻ, là thê chất, là sức chịu đựng áp lực công việc, và cách xử lý sự căng thăng trong công việc của nhân viên. + Đạo đức: là một phạm trù thê hiện tư tưởng, tình cảm, lối sống, thái độ và phong cách đối xử với đồng nghiệp trong tổ chức, với mọi người trong xã hội bao hàm cả quan niệm về nhân dân và về đất nước mình. Nguồn nhân lực trong tổ chức, một mặt là động lực thúc đây sự phát triển của tô chức, mặt khác, nguồn nhân lực cũng là mục tiêu của chính sự phát triển tô chức.
Hay nói cách khác sự phát triển của tô chức cũng nhằm phục vụ lợi ích và tạo điều kiện phát triển cho nguồn nhân lực. Do đó, giữa tô chức và nguồn nhân lực trong tổ chức phải có một mối liên hệ ràng buộc chặt chẽ dé cùng nhau phát triển bền vững trong sự phát triển chung của xã hội. Xét về góc độ khác, nguồn nhân lực được hiểu theo nghĩa bao gồm kinh nghiệm, kỹ năng, trình độ đào tạo và những sự tận tâm, nỗ lực hay bất cứ đặc điểm nào khác của người lao động. Như vậy, để xác định nguồn nhân lực, chúng ta phải xác định các thông tin về định lượng và định tính dưới nhiều khía cạnh khác nhau.
Cụ thể, phải xác định quy mô của lực lượng này và cơ cấu theo các đặc điểm khác nhau như trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ngành nghẻ; theo đặc điểm về kinh nghiệm, kỹ năng và ngoài ra còn những mô tả về sự tận tâm, nhiệt tình hay thái độ và những tiềm năng. của người lao động trong tô chức. Về phương điện định lượng, (giải quyết vấn đề biên chế), bằng cách có gắng giảm thiểu tình trạng thừa hoặc thiếu biên chế; về phương diện định tính 10 (giải quyết vấn đề năng lực và động cơ thúc đẩy lao động), bằng cách giảm thiểu tình trạng trình độ chuyên môn nghề nghiệp quá thấp hoặc quá cao, thậm chí không phù hợp với công việc, hòa hợp động cơ lao động và nhu cầu lao động của nhân viên với những yêu cầu mà công việc đặt ra trong tương lai.