CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE LY LUAN CO BAN VE GIAI QUYẾT VIEC LAM CHO LAO DON! 1.1, NHUNG VAN DE CHUNG VE GIAI QUYET VIEC LAM 1. Những vấn đề chung về lao động. Khái niệm v lao động Lao động thường được hiểu như hoạt động có mục đích, có ý thức của con người. Hoạt động này sẽ tác động vào thế giới tự nhiên biến đổi chúng thành những sản phẩm phục vụ cho đời sống của con người.
Chính vì vậy Ph.Angghen đã viết: Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người, và như thể đến một mức mã trên một ý nghĩa nảo đó chúng ta phải nói: lao động đã sáng tao ra bản thân con người (Ph. Vì thế, thiểu lao động con người sẽ không thể tồn tại va vì vậy đây là hoạt động quan trọng nhất của con người mà nhờ nó các cải vật chất và cả giá trị tỉnh thần của xã hội loài người được tạo ra. Lao động với năng suất cao, hảm lượng trí tuệ cao sẽ là nhân tổ quan trọng nhất với sự phát triển. Độ tuổi lao động khác nhau ở các quốc gia, theo Bộ Luật lao động Việt Nam (2012), độ tuổi lao động đối với nam từ 15 - 60 và nữ từ 15 - 55 (Bộ Luật Lao động.
(2012) Lực lượng lao động là những người đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và những người đang thất nghiệp tại thời điểm điều tra Cách tính: Lực lượng. Số người đang. = + Số người bị lao động làm việc thất nghiệp Việc xác định lực lượng lao đông được thực hiện thông qua tổng tra dân số hoặc điều tra thực trạng lao động với việc làm hàng năm. Đặc điểm của lao động nữ Trong tổng lực lượng lao động, số lượng lao động nữ thường chiếm.
khoảng hơn 50%, bao gồm những người phụ nữ trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng đang làm việc hay thất nghiệp. Bộ Luật Lao động Việt Nam quy định: lao động nữ là những phụ nữ từ 18 - 55 tuổi có khả năng lao đông, hiện đang có việc làm hoặc bị thất nghiệp. Lao đông nữ có những đặc điểm sau: Đặc điểm xã hội: Lao đông nữ phải thực hiện chức năng làm mẹ; Đặc điểm tự nhiên: Lao động nữ có sức khỏe và tâm sinh lý khác với nam giới chỉ thích hợp với công việc ít nặng nhọc. Thất nghiệp - lao động không có việc làm Về khái niệm thất nghiệp có nhiều nhưng theo Tổ chức lao động thể giới - ILO: Thất nghiệp là tình trạng tồn tại khi một số người trong lực lượng.
lao động muốn làm việc, nhưng không thể tìm được việc làm ở mức tiền công. đang thịnh hành, “Thất nghiệp là trong thái người lao động vì lý do nào đó không có việc nhưng muốn làm việc. Tuy nhiên tùy theo cách tiếp cận khác nhau mà có các. dạng thất nghiệp khác nhau: 'Thất nghiệp tự nhiên là tình trạng thất nghiệp xuất hiện và tồn tại ngay.
cả trong dài hạn, và thất nghiệp chu kỳ diễn ra trong ngắn hạn do sai lệch giữa. thất nghiệp thực tế và tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên dưới ảnh hưởng của chu kỳ kinh doanh. Thất nghiệp chu kỳ là loại thất nghiệp xảy ra khi thất nghiệp thực tế chênh lệch với tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên do những biến động trong nền kinh. tế và thường được gọi là chu kỳ kinh doanh.
~ Thất nghiệp cơ cấu: là tình trạng thất nghiệp xây ra do cơ cấu tiêu dùng thay đổi làm thay đổi cơ cấu sản xuất tạo ra mắt đồng bộ giữa cơ cấu lao 12 động (tay nghề, nghề nghiệp) và cơ hội làm việc. Loại thất nghiệp này mang. đặc điểm của thất nghiệp dai han ~ Thất nghiệp thời vụ: là tình trạng thất nghiệp xảy ra khi xuất hiện mức độ hoạt động kinh tế thấp ở một số ngành kinh tế trong một số khoảng thời gian trong năm. Người thất nghiệp là người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động nhưng không có việc làm vì lý do nào đó nhưng có nhu cầu tìm việc làm.
Tỹ lệ thắt nghiệp: Tình trạng thất nghiệp của nền kinh tế được đánh giá bằng chỉ tý lệ thất nghiệp. Là tỷ lệ giữa Số người có việc làm so với Tổng lực lượng lao. động xã hội Từ sự phân tích trên, thống nhất khái niệm người thất nghiệp ở Việt Nam như hướng dẫn điều tra lao động việc làm năm 2000 có nghĩa là: Người thất nghiệp là người từ đủ 15 tuổi trở lên trong nhóm dân số hoạt động kinh tế, có khả năng lao động, trong tuần lễ điều tra không có việc làm, đang có nhu cầu tìm việc làm hoặc đã đi tìm việc làm trong 4 tuần qua nhưng không. tìm được việc làm Trong điều kiện thị trường lao động Việt Nam chưa phát triển, hệ thống.
thu thập thông tin còn chưa đồng bộ đễ phục vụ kịp thời cho c hoạch định các chính sách quản lý lao động và chính sách đối với người thất nghiệp, cẳn chú ý đến hai dạng thất nghiệp là thất nghiệp dài hạn và thất nghiệp ngắn hạn. ~ Thất nghiệp dài hạn là người bị thất nghiệp liên tục từ 12 tháng trở lên tính từ ngày đăng ký thất nghiệp. ~ Thất nghiệp ngắn hạn là trạng thái mà người ta rơi vào thất nghiệp đưới 12 tháng tính từ ngày đăng ký thất nghiệp. 'Về lâu dài việc thống kê thất nghiệp phải theo khái niệm trên, nhưng 13 hiện nay hệ thống dich vụ việc làm chưa phát triển, số lao động thất nghiệp chưa đăng ký khá nhiễu, khi lh chỉ tiêu này phải tính từ ngày bị thất nghiệp.
thay thế ngày đăng ký thất nghiệp. Những vấn đề chung về giải quyết việc làm. Vige lam Khái niệm: Việc làm là tiền đề cơ bản giúp chúng ta nhận dạng và phân loại đối tượng một cách chính xác và thống nhất, từ đó có những biện pháp. hữu hiệu để giải quyết vấn đề việc làm cho người lao động.
Cho đến nay, khái niệm về việc làm được tiếp cận theo nhiều cách khác nhau: ~ Việc làm là sự kết hợp giữa lao động và vốn sản xuất hay tư bản theo cách nào đó để biển đổi đối tượng lao động thành sản phẩm phục vụ cho nhu. cầu của con người (Bùi Quang Bình (2012) ~ Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cắm (Bộ Luật Lao động (2012)). Dù tiếp cận theo nhiều cách khác nhau nhưng các khái niệm việc làm này vẫn biểu hiện những nội dung tuy có khác nhau, nhưng vẫn có những, điểm chung sau: + Việc làm gắn với hoạt động lao động của con người. + Người lao động làm việc đều có mục đích nhất định mà trong đó bao.
gồm các mục tiêu chủ yếu nl như có ngt thu nhập; làm việc để chứng tỏ ban than, + Hoạt động lao động đó không bị luật pháp ngăn cắm. ‘Tuy nhiên, việc làm và làm việc tuy cùng chỉ hoạt động lao động của con người nhưng ngữ nghĩa có sự khác biệt. Việc làm là danh từ để chỉ hoạt động của con người nhưng làm việc lại là động từ tuy cũng chỉ hoạt động của con người qua đó chỉ trạng thái hoạt động. Trên thực tế, có trường hợp người lao động có sức lao động nhưng không có việc làm, cần phải giải quyết việc 14 làm.
Ngược lại, có trường hợp người lao động có sức lao động, có việc làm. nhưng không làm việc vì những lý do khác nhau. Ví dụ: trong các hợp tác xã nông nghiệp ở Việt Nam trước đây, người lao động thờ ơ với công việc của hợp tác xã do thu nhập thấp, người công nhân trong doanh nghiệp đình công. do bắt mãn với cách thức quản lý của chủ doanh nghiệp.
Trong những trường hợp này cần phải có những biện pháp hợp lý để người lao động tự giác làm việc, nâng cao hiệu quả sử dụng lao động. Như vậy, từ việc làm đến làm việc còn có sự khác biệt và cần phải có thay đổi lớn. Việc làm là trạng thái tĩnh, khi người lao động có được công việc ở nơi nào đó nhưng không nói được họ làm việc thế nào. Chỉ khi người ta làm việc có năng suất thì ý nghĩa của việc làm mới được nâng lên.
'Vì vậy, có thể đưa ra khái niệm về việc làm: Việc làm là khái niệm đề phản ánh quá trình kết hợp giữa lao động và vốn sản xuất hay tư bản theo cách nào đó đẻ tạo ra sản phẩm nhằm thỏa mân nhu cầu nào đó của con người như tạo ra thu nhập, ra của cải vật chất hoặc thoả mãn những nhu cầu nào đỏ. phù hợp với những qip' định của pháp luật. Việc làm cho lao động nữ: Các chính sách của Việt Nam khẳng định phải bảo đảm quyền làm việc. cho lao động nói chung và phụ nữ nói riêng.
Điều này được khẳng định cụ thể ở các điểm sau: Bao đảm quyền làm việc bình đẳng của lao động nữ; Khuyến khích người sử dụng lao động tạo điều kiện để lao động nữ có việc làm thường, xuyên, áp dụng rộng rãi chế độ làm việc theo thời gian biểu linh hoạt, làm việc không trọn thời gian, giao việc làm tại nhà (Bộ Luật Lao động (2012) b. Giải quyết việc làm Việc làm được tạo ra nếu điều kiện để lao động và tư bản được kết hợp với nhau theo cách nào đó. Người lao động vì lý do nào đó không có việc làm 15 hay trạng thái khi đó người lao động không thể có được các điều kiện để sức lao động của họ có thể kết hợp với các tư bản và công nghiệ sản xuất. Do đó: Giải quyết việc làm người lao động là các hoạt động của xã hội nhằm tạo ra các điều kiện thuận lợi dé kết hợp lao động với tư bản hay vốn sản xuất theo cách thức nào trong quá trình sản xuất xã hội đó để họ có được lợi ích từ hoạt động này (Đăng Nguyên Anh (2010).
Giải quyết việc làm là hoạt động chủ quan của nhà nước nhưng đường như thụ động theo bối cảnh và ngược với cách tạo việc làm. Tạo việc làm mang tính chủ động hơn và được hoạch định trên cơ sở dự báo thị trường lao động. Nhưng khi sai lệch trước những biến động bất thường sẽ làm thất nghiệp và thiếu việc lam tang lên sẽ cần chính sách giải quyết việc làm. vậy chính sách việc làm sẽ bao hàm hai hướng giải quyết việc làm và tạo việc.
Giải quyết việc làm cho lao động phụ thuộc cung cầu lao động và chính sách của nhà nước. Số lượng và chất lượng lao động ảnh hưởng tới nguồn cung lao động, mức độ sẵn sàng tham gia thị trường lao động cũng là một yếu tố quan trọng.