Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực Chương 2: Thực trạng phát triển nguồn nhân lực ngành y tế tỉnh Quảng. Ngãi thời gian qua Chương 3: Một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực ngành y tế tỉnh. Quảng Ngãi trong thời gian tới. Téng quan tai liệu nghiên cứu Nguồn nhân lực ~ nguồn lực quý giá nhất của các đơn vị, tổ chức là yếu tố quyết định đến sự thành bại của họ trong tương lai.
Vì thể, liên quan đến nội dung này đã có nhiều công trình, tác giả đi sâu nghiên cứu, nỗi bật phải kể đến một số công trình nghiên cứu sau: a. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Trên thế giới, từ những năm ở thập niên 1990 trở lại đây đã có nhiều nghiên cứu vẻ phát triển nguồn nhân lực một cách có hệ thống, nhất là ở Châu Âu, và một số nước phát triển như Nhật, Canada, Úc,.Tiêu biểu nhất là một số nghiên cứu và các tác giả dưới đây: Quan điểm của các nhà nghiên cứu thuộc Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP - United Nations Development programme) trong Báo cáo phát triển con người cho rằng: “Phát triển nguồn nhân lực chịu sự tác động của các nhân tố: giáo dục — dao tao, sức khỏe và dinh dưỡng, môi trường việc làm và sự giải phóng con người. Trong quá trình tác động đến sự phát triển nguồn nhân lực, những nhân tố này luôn gắn bó, hỗ trợ và phụ thuộc lẫn nhau, trong đó, giáo dục - đào tạo là nhân tố nền tảng, là cơ sở vật chất của các nhân tố khác. Nhân tố sức khỏe và dinh dưỡng, môi trường việc làm và sự giải phóng con người là những nhân tố thiết yếu, nhằm duy trì và đáp ứng sự phát triển bền vững nguồn nhân lực.
Nền sản xuất cảng phát triển, thi phan đóng góp của trí tuệ thông qua giáo dục — đào tạo ngày càng chiếm tỷ trọng lớn so với đóng góp của các yếu tố khác trong cơ cấu giá trị sản của lao xuất động”. Quan điểm của tổ chức giáo dục khoa học và văn hóa của Liên Hiệp Quốc (UNESCO) cho rằng: “Phát triển nguồn nhân lực là sự lành nghề của dân cư trong mối quan hệ phát triển của đất nước.” Quan điểm sử dụng năng lực con người của Tổ chức lao động quốc tế (ILO - International Labour Organization) cho rằng: “Phát triển nguồn nhân lực bao hàm không chỉ sự chiếm lĩnh trình độ lành nghề, mà bên cạnh phát triển nguồn nhân lực, là làm cho con người có nhu cầu sử dụng năng lực đó để tiến đến có được việc làm hiệu quả cũng như thỏa mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân”. Phát triển nguồn nhân lực trong các tổ chức quy mô nhỏ - nghiên cứu và thực tiễn do Jim Stewart và Graham Beaver chủ biên (2004). Cuốn sách gồm.
có 3 phần: Phần I nêu lên những gợi ý trong việc thiết kế và thực hiện nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực. Phần II gồm những bài trình bày kết quả nghiên cứu về các cách tiếp cận để phát triển nguồn nhân lực trong các tổ chức quy mô nhỏ. Phần III đề cập đến các phương pháp phát triển nguồn nhân lực mà các tổ chức quy mô nhỏ thường áp dụng và thực hành Gần đây, nhiều nghiên cứu về phương pháp luận và nội dung phát triển nguồn nhân lực đã được công bó. Tiêu biểu nhất có thẻ kể đến là các tác giả: Charles Cowell và cộng sự, W.clayton Allen va Richad A.
Swanson (2006), Timothy Me Clernon và Paul B. Các nghiên cứu này đều thống nhất “Mô hình đào tạo mang tính hệ thống gồm phân tích, thiết kế, phát triển, thực hiện, và đánh giá (ADDIE)” được sử dụng trên 30 năm qua trên thế giới là những nội dung cốt lõi của phát triển nguồn nhân lực. b, Tình hình nghiên cứu trong nước. Trong những năm qua, ở Việt Nam đã có nhiều người quan tâm và nghiên cứu về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực theo nhiều giác độ khác nhau.
Phạm Minh Hạc cho rằng: có thể hiểu nguồn nhân lực là bộ phận dân số trong độ tuổi nhất định theo qui định của pháp luật có khả năng tham gia lao. Nguồn nhân lực là tổng hợp những năng lực cả về thể lực và trí lực của nhóm người, một tô chức, một địa phương hay một quốc gia. Võ Xuân Tiến (2010) , trong nghiên cứu về : “Một số vấn đề về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực”, được đăng trên tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Đà Nẵng đã đưa ra nhiều quan điểm, khái niệm về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực. Nghiên cứu đã làm rõ luân điểm phát triển nguồn nhân lực, động cơ thúc đẩy người lao động và yêu cầu của đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.
“Trong thời gian qua cũng có rất nhiều công trình nghiên cứu, bài viết về vấn đề phát triển nguồn nhân lực ở góc độ của các tổ chức, doanh nghiệp. Cụ thể như sau: Lê Thị Mỹ Linh (2009) , Luận án tiến sĩ kinh tế “Phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế °. Tác giả đã khái quát hóa và phát triển nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa nói riêng, đề xuất những quan điểm, giải pháp để hoàn thiện PTNNL trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Phan Thủy Chỉ (2008) , Luận án tiến sỹ kinh tế “ Đào rao và phát triển nguôn nhân lực trong các trường đại học khối kinh tế của Việt Nam thông qua các chương trình hợp tác đào tạo quốc tế”.Đây là nghiên cứu khá hệ thống về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ở các trường đại học.
Ngô Thị Minh Hằng (2008) , “Công tác đảo tạo và phát triển nguồn nhân lực trong công ty nhà nước” trình bày một nghiên cứu về thực trạng Phát triển nguồn nhân lực mà chủ yếu là hoạt động đào tạo các doanh nghiệp nhà nước thông qua khảo sát một số doanh nghiệp ở địa bàn Hà Nội. CHUONG 1 MOT SO VAN DE LY LUAN VE PHAT TRIENNGUON NHAN LUC 1. KHAL QUAT VE PHAT TRIEN NGUON NHAN LUC 1. Một số khái niệm & Nhân lực Nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động.
Sức lực đó ngày cảng phát triển cùng với sự phát triển của con người và đến mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động, con người có sức lao động [14] Nhân lực cũng có thể hiểu là nguồn lao động sống và có mỗi quan hệ khăn khít với các yếu tô khác trong tổ chức hay trong quá trình sản xuất. Nó giữ vai trò quyết định đến các yếu tố đầu vào trong quá trình lao động, sản xuất. Tùy thuộc vào từng loại hình tổ chức mà cơ cấu, chất lượng, số lượng. của nhân lực sao cho hợp lý nhằm mục đích hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ của tổ chức.
Như vậy, nhân lực là nguôn lực của mỗi con người, gồm thể lực, trí lực. và nhân cách. Trong đó: ~Thể lực chỉ sức khỏe của nhân thể, nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhưgiới tính, gen di truyền, sức vóc, tình trạng sức khỏe của từng con người, mức sống, thu nhập, chế độ sinh hoạt, chế độ làm việc nghỉ ngơi, chế độ y tẾ,. của từng người.
~ Trí lực là năng lực trí tuệ của con người. Trí lực là khả năng phân tích,khả năng suy nghĩ, hiểu biết của con người, giải quyết vấn đề, đồng thời cũng là năng lực nhận thức thế giới và cải tạo thế giới. Trí lực ảnh hưởng đến khả năng tư duy, tiếp thu khoa học — công nghệ, năng lực sáng tạo trong công việc. „ ~ Nhân cách là nét đặc trưng tiêu biểu của con người, được hình thành trong sự kết hợp giữa hiệu quả giáo dục và môi trường, là hệ thống những phẩm giá của một người được đánh giá từ mối quan hệ qua lại của người đó với những người khác, với tổ chức, với xã hội và cả thế giới tự nhiên xung quanh trong mọi cái nhìn xuyên suốt quá khứ cho đến tương lai.
b, Nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là nguồn lực về con người, và được nghiên cứu ở nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau. Vì vậy, có khá nhiều những định nghĩa khác nhau về nguồn nhân lực: Nguồn nhân lực là tổng hợp cá nhân những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các nhân tố về thể chất và tinh thần được. huy động vào quá trình lao động. Nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng của con người, trước hết và cơ bản nhất là tiềm năng lao động, bao gồm: thể lực, trí lực, nhân cách của con người đáp ứng mục tiêu của tổ chức.
Nguồn nhân lực vừa là phương tiện vừa là mục đích, nguồn nhân lực tương tác với các nguồn lực khác và đó là con người có cá tính, năng lực riêng [18] Theo Tô chức Lao động quốc tế (ILO) thì nguồn nhân lực là bộ phận dân số trong độ tuôi lao động quy định theo thực tế đang có việc làm và những. người thất nghiệp. Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) thì nguồn nhân lực là trình độ lành nghẻ, là kiến thức, là năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hay đang là tiềm năng đề phát triển kinh tế xã hội trong một cộng đồng[5]. Như vậy, nguồn nhân lực là tổng thể các tiểm năng lao động con người của một quốc gia đã được chuẩn bị ở một mức độ nhất định, có khả năng huy động vào quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước; tiềm năng.
đó bao gồm tông hoà các năng lực về thể lực, trí lực, nhân cách con người của một quốc gia, đáp ứng với một cơ cấu nhất định của lao động do nẻn kinh tế đòi hỏi. Thực chất đó là tiềm năng con người về số lượng, chất lượng và cơ cấu. Ngân hàng thế giới (WB) cho rằng: nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp. của mỗi cá nhân.
Theo Begg, Fischer và Dornbusch: Nguồn nhân lực là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích luỹ được, nó được đánh giá cao vì tiềm năng đem lại thu nhập cao trong tương lai. Cũng giống như nguồn lực vật chất, Nguồn nhân lực là kết quả đầu tư trong quá khứ với mục đích tạo ra thu nhập. trong tương lai. Cách hiểu này còn hạn hẹp, chỉ giới hạn trong trình độ chuyên môn của con người và chưa đặt ra giới hạn về mặt phạm vi không gian của Nguồn nhân lực.