Tổng quan nghiên cứu

Trong giai đoạn 2001 - 2010, tỉnh Bình Định ghi nhận tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối nhanh và ổn định với tổng sản phẩm nội tỉnh tăng bình quân 9,9%/năm. Tổng sản phẩm bình quân đầu người năm 2010 đạt 940 USD, gấp 4,22 lần so với mức 223 USD vào năm 2000. Dù có bước phát triển kinh tế vượt bậc, quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động của địa phương lại diễn ra chậm chạp và thiếu đồng bộ với sự chuyển biến của cơ cấu kinh tế. Tỷ trọng lao động ngành nông, lâm, thủy sản năm 2010 vẫn chiếm tới 58,3% tổng lực lượng lao động, trong khi khu vực này chỉ đóng góp 35,7% vào cơ cấu tổng sản phẩm của tỉnh. Thực trạng này phản ánh năng suất lao động xã hội còn thấp, chất lượng nguồn nhân lực chưa cao và xuất hiện nghịch lý vừa thừa lao động phổ thông, vừa thiếu hụt nghiêm trọng lao động có trình độ kỹ thuật.

Nghiên cứu tập trung giải quyết vấn đề bất cập trong phân bổ và sử dụng nguồn nhân lực trên địa bàn toàn tỉnh. Mục tiêu cụ thể là hệ thống hóa cơ sở lý luận về cơ cấu lao động, đánh giá sâu sắc thực trạng chuyển dịch nguồn nhân lực trong mối tương quan với chuyển dịch cơ cấu kinh tế giai đoạn 2000 - 2010, từ đó xác lập các căn cứ khoa học nhằm đề xuất hệ thống giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động hợp lý giai đoạn 2011 - 2015. Phạm vi không gian nghiên cứu bao quát toàn bộ 10 huyện và 1 thành phố Quy Nhơn thuộc tỉnh Bình Định trong khung thời gian 10 năm. Luận văn mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi hướng tới mục tiêu nâng mức năng suất lao động xã hội (vốn chỉ đạt 31,8 triệu đồng/người/năm vào năm 2010, tương đương 77,1% bình quân cả nước), hỗ trợ hiện thực hóa Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Định đến năm 2020 do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng kết hợp các học thuyết kinh tế phát triển và quy luật phân công lao động xã hội:

  • Quy luật tăng năng suất lao động của Allan Fisher: Sự phát triển khoa học công nghệ làm cho ngành nông nghiệp dễ thay thế lao động nhất, dẫn tới xu hướng giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp và gia tăng nhanh chóng nhu cầu lao động trong khu vực công nghiệp, dịch vụ.
  • Mô hình hai khu vực cổ điển của Arthur Lewis: Quá trình chuyển dịch lao động dư thừa từ khu vực truyền thống (nông nghiệp) sang khu vực hiện đại (công nghiệp) phụ thuộc hoàn toàn vào năng lực tích lũy và mở rộng đầu tư của ngành công nghiệp.
  • Mô hình di cư Todaro: Quyết định di chuyển lao động từ nông thôn ra thành thị bắt nguồn từ sự chênh lệch thu nhập kỳ vọng và xác suất tìm kiếm việc làm, chịu sự chi phối của lực hút đô thị và lực đẩy nông thôn.
  • Mô hình phát triển 3 giai đoạn của Harry T. Oshima: Ứng dụng phù hợp với đặc thù kinh tế nông nghiệp lúa nước châu Á nhằm giải quyết việc làm mùa vụ trước khi chuyển sang phát triển theo chiều sâu.

Bên cạnh đó, nghiên cứu vận dụng các khái niệm then chốt gồm cơ cấu cung - cầu lao động, cơ cấu lao động theo ngành kinh tế, cơ cấu theo trình độ chuyên môn kỹ thuật, cơ cấu dân số vàng (đạt tỷ số phụ thuộc 1,89 lần vào năm 2009) và hệ số co giãn của lao động theo GDP.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được khai thác từ hệ thống thống kê chính thống: Niên giám thống kê tỉnh Bình Định giai đoạn 2000 - 2010, số liệu Tổng điều tra Dân số và Nhà ở ngày 1/4/2009 (với quy mô mẫu toàn diện chiếm 61,64% dân số trong độ tuổi lao động của tỉnh), kết quả Điều tra Doanh nghiệp hàng năm và điều tra cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể tại 11 đơn vị hành chính cấp huyện.

Về phương pháp chọn mẫu và phân tích, tác giả sử dụng phương pháp chọn mẫu xác suất kết hợp phân tầng theo địa bàn hành chính và nhóm ngành kinh tế, bao quát hơn 2.566 doanh nghiệp ngoài nhà nước và hàng nghìn hộ cá thể. Nghiên cứu kết hợp phương pháp thống kê mô tả, phân tích chuỗi thời gian 10 năm, phương pháp so sánh liên ngành và phương pháp định lượng xác định hệ số co giãn của lao động theo tăng trưởng kinh tế ($e = l/g$). Lý do lựa chọn hệ thống phương pháp này là nhằm phản ánh bản chất động của luồng di chuyển lao động, lượng hóa chính xác mức độ nhạy cảm của việc làm trước tăng trưởng GDP, bảo đảm tính khách quan và độ tin cậy khoa học cao cho các kết luận.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình khảo sát dữ liệu thực nghiệm 10 năm (2000 - 2010) tại Bình Định mang lại bốn phát hiện trọng tâm:

Thứ nhất, tốc độ chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành diễn ra chậm hơn nhiều so với tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Tỷ trọng lao động nông, lâm, thủy sản giảm từ 67,3% (năm 2001) xuống 58,3% (năm 2010), bình quân mỗi năm giảm khoảng 2,3%. Ngược lại, lao động công nghiệp - xây dựng tăng từ 14,8% lên 19,3% (tăng 6%/năm) và lao động dịch vụ tăng từ 17,9% lên 22,4% (tăng 3,5%/năm). Trong khi đó, tỷ trọng GDP nông nghiệp đã giảm mạnh về mức 35,7%, công nghiệp đạt 27,2% và dịch vụ đạt 37,1%.

Thứ hai, năng suất lao động xã hội ở mức rất thấp và phân hóa sâu sắc. Năm 2010, năng suất lao động toàn tỉnh đạt 31,8 triệu đồng/người/năm, chỉ bằng 77,1% mức trung bình cả nước (41,25 triệu đồng/người/năm). Năng suất lao động ngành nông nghiệp chỉ bằng 40,36% ngành công nghiệp và 37,35% ngành dịch vụ. Đáng chú ý, số giờ làm việc bình quân 1 tuần của 1 lao động nông nghiệp chỉ bằng 68,2% so với lao động phi nông nghiệp do tính chất mùa vụ.

Thứ ba, cơ cấu lao động theo thành phần kinh tế dịch chuyển mạnh mẽ sang khu vực ngoài nhà nước. Năm 2010, lao động ngoài nhà nước chiếm tới 94,0% (tăng 1,7% so với năm 2001), đóng góp 82,7% GDP và tạo việc làm cho hơn 94,2% lao động toàn xã hội; khu vực nhà nước giảm xuống còn 5,8% và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chỉ chiếm 0,2%.

Thứ tư, hệ số co giãn của lao động theo GDP thiếu tính ổn định. Chỉ số này đạt đỉnh vào năm 2001 ($e = 0,53$), rơi xuống mức thấp nhất vào năm 2007 ($e = 0,15$) và đạt $e = 0,16$ vào năm 2010, chứng tỏ để đạt 1% tăng trưởng GDP thì số lượng lao động chỉ tăng thêm 0,16%.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện thực nghiệm được minh họa rõ nét qua các đồ thị phân tích chuỗi thời gian, biểu đồ cơ cấu GDP kết hợp biểu đồ phân bổ lao động ba khu vực kinh tế. Khi so sánh với các lý thuyết kinh tế, kết quả tại Bình Định phản ánh sự phân bố nguồn lực chưa tối ưu. Nguyên nhân trực tiếp khiến năng suất lao động ngành công nghiệp chưa bứt phá là do 57% doanh nghiệp trên địa bàn có trình độ công nghệ thấp, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao chỉ chiếm 20,5%, hoạt động sản xuất chủ yếu thâm dụng lao động giản đơn và gia công nguyên liệu thô.

Mặc dù tỉnh đã quy hoạch 5 khu công nghiệp tập trung (gồm Long Mỹ 210 ha, Phú Tài 348 ha, Nhơn Hội 630 ha, Nhơn Hòa 272 ha, Hòa Hội 265 ha) và 37 cụm công nghiệp với diện tích 1.106,7 ha, nhưng khả năng hấp thụ lao động kỹ thuật cao vẫn còn hạn chế. So với mô hình Todaro, luồng di cư từ nông thôn ra thành thị tại Bình Định đã hình thành (tỷ lệ lao động thành thị tăng từ 24,2% năm 2000 lên 27,8% năm 2010), song phần lớn lao động nông thôn khi chuyển dịch vẫn thiếu kỹ năng chuyên môn, tạo nên áp lực thiếu việc làm hữu hình tại đô thị và lãng phí thời gian lao động ở nông thôn.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm đẩy nhanh tiến trình chuyển dịch cơ cấu lao động tỉnh Bình Định giai đoạn 2011 - 2015, bốn nhóm giải pháp mang tính hành động cao được đề xuất:

  1. Đẩy mạnh phát triển công nghiệp chế biến và thu hút đầu tư chất lượng cao: Ủy ban nhân dân tỉnh cùng Sở Công Thương chủ trì giai đoạn 2011 - 2015 đẩy nhanh tiến độ lấp đầy 5 khu công nghiệp lớn và 37 cụm tiểu thủ công nghiệp; tập trung vào công nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu, thủy hải sản và sản xuất vật liệu xây dựng cao cấp; đặt mục tiêu nâng tỷ trọng lao động công nghiệp - xây dựng lên mức 25% - 28% vào năm 2015.
  2. Nâng cấp mạng lưới đào tạo nghề gắn với nhu cầu thị trường: Sở Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với các trường đại học, cao đẳng kỹ thuật triển khai chương trình đào tạo nghề theo đơn đặt hàng doanh nghiệp; phấn đấu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề từ dưới 30% lên mức 45% - 50% vào năm 2015, ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực phục vụ Khu kinh tế Nhơn Hội và các ngành dịch vụ logistics, du lịch.
  3. Thực hiện chuyển dịch lao động nông nghiệp tại chỗ theo phương châm "ly nông bất ly hương": Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chỉ đạo chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, phát triển kinh tế trang trại và ứng dụng công nghệ sinh học; thúc đẩy các làng nghề thủ công mỹ nghệ nhằm tận dụng quỹ thời gian nhàn rỗi (vốn đang thiếu hụt tới 31,8% số giờ làm việc), giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp xuống dưới 50% vào năm 2015.
  4. Hoàn thiện cơ chế ưu đãi cho kinh tế ngoài nhà nước và thu hút nguồn vốn FDI: Ban Quản lý Khu kinh tế và Sở Kế hoạch & Đầu tư đẩy mạnh cải cách hành chính, huy động tối đa nguồn vốn đầu tư phát triển (phấn đấu vượt mức 52.380 tỷ đồng của giai đoạn trước), hỗ trợ mở rộng quy mô cho hơn 2.566 doanh nghiệp tư nhân và nâng tỷ trọng lao động làm việc trong khu vực FDI lên trên 1% vào năm 2015.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu cung cấp giá trị tham khảo thực tiễn và học thuật cho bốn nhóm đối tượng chính:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách cấp tỉnh (Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Kế hoạch & Đầu tư, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội): Sử dụng hệ thống chỉ tiêu co giãn lao động và dữ liệu cơ cấu ngành để xây dựng Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm.
  • Ban quản lý các khu kinh tế, khu công nghiệp và các hiệp hội doanh nghiệp: Nắm bắt xu hướng dịch chuyển dân số trong độ tuổi lao động (chiếm 61,64% dân số) để chủ động xây dựng chiến lược tuyển dụng, đào tạo nội bộ và bố trí nguồn nhân lực phù hợp.
  • Các cơ sở giáo dục đại học, trường cao đẳng và trung tâm dạy nghề: Căn cứ vào nhu cầu chuyển dịch cơ cấu kỹ thuật để điều chỉnh danh mục ngành đào tạo, tăng cường liên kết thực tập sản xuất và nâng cao năng lực thực hành cho người học.
  • Giảng viên, học viên cao học và nhà nghiên cứu chuyên ngành Kinh tế phát triển: Tham khảo phương pháp tiếp cận định lượng kết hợp hệ thống lý thuyết chuẩn tắc trong nghiên cứu thị trường lao động cấp địa phương.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao cơ cấu lao động tại Bình Định chuyển dịch chậm hơn cơ cấu kinh tế? Cơ cấu GDP chuyển dịch nhanh sang công nghiệp và dịch vụ (chiếm 64,3% năm 2010), nhưng lao động nông nghiệp vẫn chiếm tới 58,3%. Nguyên nhân là do công nghiệp địa phương chủ yếu có tỷ trọng công nghệ thấp (57%), thâm dụng gia công thô nên chưa tạo đủ việc làm chất lượng cao để hấp thu triệt để lao động dư thừa từ nông thôn.

Thực trạng năng suất lao động xã hội tại Bình Định trong giai đoạn 2000 - 2010 như thế nào? Năm 2010, năng suất lao động toàn tỉnh đạt 31,8 triệu đồng/người/năm, chỉ bằng 77,1% mức bình quân chung của cả nước (41,25 triệu đồng/người/năm). Trong đó, năng suất ngành nông, lâm, thủy sản thấp nhất, chỉ bằng 40,36% ngành công nghiệp và 37,35% ngành dịch vụ do phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên và tỷ lệ lao động thủ công lớn.

Lợi thế "cơ cấu dân số vàng" đã tác động như thế nào đến thị trường lao động Bình Định? Số liệu điều tra dân số năm 2009 chỉ ra tỷ số giữa dân số trong độ tuổi lao động và người phụ thuộc đạt 1,89 lần (cứ 1 người phụ thuộc có 1,9 người lao động gánh đỡ). Đây là dư địa to lớn về quy mô nhân lực trẻ, mở ra thời cơ vàng để phát triển kỹ năng và mở rộng sản xuất nếu có chính sách đào tạo nghề phù hợp.

Mô hình chuyển dịch cơ cấu lao động tại chỗ mang lại lợi ích gì cho địa phương? Phương thức chuyển dịch tại chỗ giúp lao động nông nghiệp chuyển sang làm ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ ngay tại nông thôn mà không phải di cư. Giải pháp này giúp giảm thiểu áp lực quá tải hạ tầng đô thị tại thành phố Quy Nhơn, đồng thời phát huy hiệu quả 37 cụm công nghiệp trên địa bàn 11 huyện.

Hệ số co giãn của lao động theo GDP trong nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn gì? Hệ số co giãn biến động từ 0,15 đến 0,53 trong 10 năm và đạt 0,16 vào năm 2010. Chỉ số này chứng minh tăng trưởng kinh tế địa phương trong giai đoạn nghiên cứu chưa tạo ra nhiều việc làm tương ứng, đòi hỏi chính quyền phải điều chỉnh cơ cấu đầu tư theo chiều sâu nhằm gia tăng giá trị tạo việc làm.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành kinh tế, không gian lãnh thổ, thành phần kinh tế và trình độ chuyên môn kỹ thuật.
  • Đánh giá sắc bén thực trạng chuyển dịch lao động Bình Định giai đoạn 2000 - 2010 với sự sụt giảm tỷ trọng nông nghiệp từ 67,3% xuống 58,3% và sự vươn lên của khu vực kinh tế ngoài nhà nước (chiếm 94,0% lao động).
  • Nhận diện chính xác điểm nghẽn về năng suất lao động thấp (đạt 31,8 triệu đồng/người/năm) và chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược đồng bộ giai đoạn 2011 - 2015, tập trung vào lấp đầy 5 khu công nghiệp, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên 50% và đẩy mạnh chuyển dịch "ly nông bất ly hương".
  • Cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn vững chắc phục vụ công tác điều hành phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Định định hướng đến năm 2020.

Để hiện thực hóa mục tiêu công nghiệp hóa và nâng cao thu nhập cho người lao động, các cơ quan ban ngành và doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh cần bắt tay triển khai ngay các giải pháp đào tạo và thu hút đầu tư trọng điểm.