Luận văn thạc sĩ: Giải pháp chuyển dịch cơ cấu lao động tỉnh Bình Định

Luận văn thạc sĩ kinh tế phân tích giải pháp chuyển dịch cơ cấu lao động tỉnh bình định, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải pháp khả thi cho thực tiễn.

Trường đại học

Đại học Đà Nẵng

Chuyên ngành

Kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2011

112
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Toàn cảnh giải pháp chuyển dịch cơ cấu lao động tỉnh Bình Định

Quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động tỉnh Bình Định là một yếu tố then chốt, quyết định sự thành công của mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Việc tái cấu trúc lực lượng lao động không chỉ là sự thay đổi về số lượng người làm việc giữa các ngành, mà còn là sự nâng cao về chất lượng và kỹ năng, đáp ứng yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Luận văn này tập trung phân tích sâu sắc thực trạng và đề xuất các giải pháp chiến lược nhằm thúc đẩy quá trình chuyển dịch này một cách hiệu quả. Bình Định sở hữu nguồn lao động dồi dào, đây là một lợi thế cạnh tranh lớn. Tuy nhiên, việc tận dụng nguồn lực này chưa tối ưu. Cơ cấu lao động hiện tại vẫn còn nặng về nông nghiệp, trong khi tỷ trọng lao động trong công nghiệp và dịch vụ tăng trưởng chậm, chưa tương xứng với tốc độ chuyển dịch của cơ cấu kinh tế tỉnh Bình Định. Sự mất cân đối này tạo ra một lực cản vô hình, làm giảm năng suất lao động chung và hạn chế tốc độ tăng trưởng kinh tế. Nghiên cứu này chỉ ra rằng, một cơ cấu lao động hợp lý sẽ là tiền đề vững chắc cho việc thu hút đầu tư, đặc biệt là vốn FDI, và phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn. Việc phân tích các yếu tố tác động như chính sách vĩ mô, điều kiện tự nhiên, và chất lượng giáo dục nghề nghiệp sẽ cung cấp một bức tranh toàn diện, từ đó xây dựng các giải pháp mang tính đột phá và khả thi, hướng tới một thị trường lao động năng động và hiệu quả hơn.

1.1. Tầm quan trọng của dịch chuyển lao động trong công nghiệp hóa

Sự dịch chuyển lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ là một quy luật tất yếu trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Quá trình này không chỉ giúp giải quyết việc làm cho lao động dôi dư ở nông thôn mà còn tạo ra giá trị gia tăng cao hơn cho nền kinh tế. Khi lao động chuyển sang các ngành sản xuất công nghiệp, họ được tiếp cận với công nghệ hiện đại và quy trình làm việc chuyên nghiệp, từ đó nâng cao năng suất lao động. Theo luận văn, "Chuyển dịch cơ cấu lao động nhằm đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa hiện đại hóa là tất yếu khách quan". Điều này khẳng định vai trò trung tâm của việc tái cơ cấu lao động trong chiến lược phát triển dài hạn của tỉnh. Quá trình này thúc đẩy sự hình thành các khu công nghiệp, khu chế xuất như Khu kinh tế Nhơn Hội, thu hút vốn đầu tư và tạo ra một chuỗi cung ứng sản xuất hoàn chỉnh.

1.2. Xu hướng chuyển đổi ngành nghề của lao động nông thôn Bình Định

Lực lượng lao động nông thôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng lao động của tỉnh Bình Định. Do đó, xu hướng chuyển đổi ngành nghề của nhóm lao động này có tác động sâu sắc đến toàn bộ cơ cấu kinh tế. Hiện nay, xu hướng dịch chuyển đang diễn ra theo hai hướng chính. Một là dịch chuyển tại chỗ, tức là lao động nông nghiệp chuyển sang làm việc trong các ngành nghề phi nông nghiệp ngay tại địa phương như tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ nông thôn. Hai là di cư đến các khu đô thị, khu công nghiệp để tìm kiếm cơ hội việc làm tốt hơn. Quá trình này đặt ra yêu cầu cấp thiết về đào tạo nghề và xây dựng các chính sách lao động hỗ trợ. Việc chuyển đổi không chỉ giúp tăng thu nhập cho người lao động mà còn góp phần giảm áp lực về đất đai và tài nguyên ở khu vực nông thôn, thúc đẩy quá trình đô thị hóa lành mạnh.

II. Phân tích thực trạng lao động việc làm Bình Định giai đoạn qua

Giai đoạn 2001-2010 chứng kiến những biến chuyển quan trọng trong thực trạng lao động việc làm Bình Định. Mặc dù kinh tế tăng trưởng khá, sự chuyển dịch cơ cấu lao động vẫn còn chậm và bộc lộ nhiều hạn chế. Theo số liệu thống kê, tỷ trọng lao động trong ngành nông, lâm, thủy sản chỉ giảm từ 67.3% (2001) xuống 58,3% (2010). Trong khi đó, ngành công nghiệp và xây dựng chỉ tăng từ 14,8% lên 19.3%. Tốc độ chuyển dịch này được đánh giá là chậm so với xu hướng chung của cả nước và các tỉnh duyên hải miền Trung. Vấn đề lớn nhất nằm ở chất lượng nguồn nhân lực. Tỉnh đối mặt với tình trạng "vừa thừa, vừa thiếu" lao động: thừa lao động phổ thông, thiếu lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao. Điều này trực tiếp ảnh hưởng đến năng suất lao động, vốn chỉ đạt 31,8 triệu đồng/người/năm vào năm 2010, thấp hơn đáng kể so với mức trung bình cả nước. Sự chênh lệch lớn về năng suất giữa các ngành (nông nghiệp so với công nghiệp, dịch vụ) càng làm sâu sắc thêm sự mất cân đối. Các chính sách hiện hành dù đã có nỗ lực nhưng chưa đủ mạnh để tạo ra bước đột phá, khiến thị trường lao động chưa thực sự linh hoạt và hiệu quả.

2.1. Thách thức về chất lượng nguồn nhân lực và thị trường lao động

Thách thức lớn nhất đối với thị trường lao động Bình Định là chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu phát triển. Tỷ lệ lao động qua đào tạo còn thấp, cơ cấu đào tạo chưa hợp lý, chưa gắn kết chặt chẽ với nhu cầu của doanh nghiệp. Luận văn chỉ ra rằng, tình trạng thiếu hụt lao động kỹ thuật cao đã kìm hãm sự phát triển của các ngành công nghiệp chế biến, công nghệ cao. Các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), gặp khó khăn trong việc tuyển dụng nhân sự cho các vị trí quản lý và kỹ thuật. Điều này làm giảm sức hấp dẫn của môi trường đầu tư và hạn chế tác động của FDI đến lao động một cách tích cực. Thị trường lao động còn bị phân mảnh, thông tin cung - cầu chưa kết nối hiệu quả, gây khó khăn cho cả người lao động và nhà tuyển dụng.

2.2. Vấn đề giải quyết việc làm cho lao động nông thôn dư thừa

Quá trình đô thị hóa và thu hẹp đất nông nghiệp đã tạo ra một lượng lớn lao động nông thôn dư thừa. Việc giải quyết việc làm cho lực lượng này là một bài toán xã hội nan giải. Nhiều người lao động không có kỹ năng chuyên môn, gặp khó khăn khi chuyển đổi ngành nghề. Họ chủ yếu tham gia vào các công việc thời vụ, không ổn định với thu nhập thấp. Các chương trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn dù được triển khai nhưng hiệu quả chưa cao, nội dung đào tạo đôi khi xa rời thực tế sản xuất. Nếu không có các giải pháp đồng bộ và quyết liệt, tình trạng thiếu việc làm ở nông thôn sẽ tiếp tục gia tăng, gây ra nhiều hệ lụy về mặt xã hội và kìm hãm sự phát triển chung của tỉnh.

III. Giải pháp vĩ mô thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động Bình Định

Để đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động tỉnh Bình Định, cần có những giải pháp mang tính vĩ mô, đồng bộ và đột phá. Trọng tâm là phải gắn kết chặt chẽ giữa chuyển dịch cơ cấu lao động với chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Bình Định. Chính sách phát triển kinh tế phải tạo ra "lực hút" đủ mạnh để kéo lao động từ khu vực nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ. Điều này đòi hỏi tỉnh cần tập trung nguồn lực đầu tư phát triển các ngành có lợi thế cạnh tranh, có khả năng thu hút nhiều lao động như công nghiệp chế biến nông lâm thủy sản, sản xuất vật liệu xây dựng, và du lịch - dịch vụ. Đặc biệt, việc phát triển các khu công nghiệp, khu kinh tế Nhơn Hội cần đi đôi với việc xây dựng hạ tầng xã hội (nhà ở, trường học, y tế) để thu hút và giữ chân người lao động. Bên cạnh đó, các chính sách lao động cần được điều chỉnh linh hoạt, tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển, từ đó tạo thêm nhiều việc làm mới. Chính sách thu hút đầu tư, đặc biệt là FDI, cần ưu tiên các dự án sử dụng công nghệ cao và cam kết đào tạo lao động địa phương. Đây là cách tiếp cận hai chiều, vừa phát triển kinh tế, vừa nâng cao chất lượng lao động một cách bền vững.

3.1. Tăng cường thu hút FDI và phát triển Khu kinh tế Nhơn Hội

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra việc làm chất lượng cao và thúc đẩy chuyển giao công nghệ. Để gia tăng tác động của FDI đến lao động, Bình Định cần cải thiện mạnh mẽ hơn nữa môi trường đầu tư, đơn giản hóa thủ tục hành chính. Trọng điểm là phát triển Khu kinh tế Nhơn Hội trở thành một trung tâm công nghiệp - dịch vụ - cảng biển hiện đại. Việc thu hút các tập đoàn lớn đầu tư vào đây không chỉ tạo ra hàng nghìn việc làm trực tiếp mà còn kéo theo sự phát triển của các ngành dịch vụ phụ trợ, tạo hiệu ứng lan tỏa rộng khắp. Các chính sách ưu đãi cần gắn với điều kiện về tỷ lệ nội địa hóa và sử dụng lao động địa phương, khuyến khích doanh nghiệp FDI tham gia vào quá trình đào tạo nghề.

3.2. Hoàn thiện chính sách lao động gắn với công nghiệp hóa

Hệ thống chính sách lao động phải được hoàn thiện để trở thành công cụ đắc lực cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Cần xây dựng các chính sách hỗ trợ người lao động khi di chuyển từ nông thôn ra thành thị, bao gồm hỗ trợ về nhà ở, đăng ký tạm trú, và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Đồng thời, cần có chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào đổi mới công nghệ, tự động hóa để tăng năng suất lao động. Các chính sách về tiền lương, bảo hiểm xã hội, an toàn lao động cần được thực thi nghiêm túc để bảo vệ quyền lợi người lao động, tạo ra một thị trường lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ, góp phần vào mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội chung của tỉnh.

IV. Bí quyết nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho Bình Định

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là giải pháp căn cơ và bền vững nhất để thực hiện thành công chuyển dịch cơ cấu lao động tỉnh Bình Định. Đây không chỉ là trách nhiệm của ngành giáo dục mà cần sự chung tay của toàn xã hội, từ chính quyền, doanh nghiệp đến bản thân người lao động. Trọng tâm của giải pháp này là phải đổi mới toàn diện hệ thống đào tạo nghề. Các chương trình đào tạo cần được thiết kế lại theo hướng module, linh hoạt, dựa trên tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia và đáp ứng chính xác nhu cầu của thị trường lao động. Việc liên kết chặt chẽ giữa ba nhà: Nhà nước – Nhà trường – Doanh nghiệp là yếu tố sống còn. Doanh nghiệp phải tham gia từ khâu xây dựng chương trình, giảng dạy, hướng dẫn thực tập đến đánh giá và tuyển dụng. Bên cạnh đào tạo chuyên môn, cần chú trọng rèn luyện các kỹ năng mềm như kỷ luật lao động, khả năng làm việc nhóm và ngoại ngữ. Một nguồn nhân lực chất lượng cao không chỉ giúp tăng năng suất lao động mà còn là yếu tố quyết định để thu hút các dự án đầu tư công nghệ cao, tạo ra một vòng tròn phát triển tích cực cho kinh tế tỉnh nhà.

4.1. Đổi mới hệ thống đào tạo nghề theo nhu cầu xã hội

Hệ thống đào tạo nghề hiện tại cần một cuộc cách mạng thực sự. Thay vì đào tạo theo những gì sẵn có, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp phải chuyển sang đào tạo theo những gì doanh nghiệp và xã hội cần. Điều này đòi hỏi phải có các cuộc khảo sát, dự báo nhu cầu nhân lực định kỳ và chính xác. Cần đa dạng hóa các hình thức đào tạo, từ chính quy dài hạn đến các khóa ngắn hạn, đào tạo tại chỗ cho công nhân. Nhà nước cần có chính sách đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị cho các trường nghề trọng điểm, đồng thời khuyến khích xã hội hóa, thu hút doanh nghiệp tham gia đầu tư vào lĩnh vực này. Việc đổi mới đào tạo nghề sẽ góp phần trực tiếp vào mục tiêu giải quyết việc làmphát triển kinh tế - xã hội.

4.2. Chiến lược nâng cao năng suất lao động và chuyển đổi ngành nghề

Nâng cao năng suất lao động là mục tiêu cuối cùng của mọi nỗ lực cải thiện chất lượng nhân lực. Điều này đòi hỏi người lao động phải liên tục học hỏi, cập nhật kiến thức và kỹ năng mới để thích ứng với sự thay đổi của công nghệ. Tỉnh cần xây dựng các chương trình hỗ trợ người lao động trong quá trình chuyển đổi ngành nghề, đặc biệt là lao động từ nông nghiệp. Các trung tâm dịch vụ việc làm cần phát huy vai trò tư vấn, giới thiệu việc làm và kết nối cung - cầu lao động hiệu quả hơn. Khuyến khích văn hóa học tập suốt đời trong mỗi cá nhân và doanh nghiệp sẽ tạo ra một lực lượng lao động không ngừng tiến bộ, sẵn sàng đối mặt với thách thức và nắm bắt cơ hội trong nền kinh tế tri thức.

21/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

BO GIAO DUC VA DAO TAO ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG Phạm Thị Chung Thủy GIẢI PHAP CHUYEN DICH CO CAU LAO DONG TINH BINH DINH LUAN VAN THAC Si KINH TE 2011 | PDF | 111 Pages buihuuhanh@gmail.com Da Nang - Nam 2011 1. Tính cấp thiết của đề Phát triển kinh tế bao giờ cũng được quyết định bởi nhân tố con người nói chung và lực lượng lao động nói riêng, bởi tăng trưởng và phát triển kinh tế tùy thuộc trước hết vào năng lực, trí tuệ và ngành nghề của người lao động. Với mục tiêu của Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Bình Định lẫn thứ XVIII: *Phát triển công, nghiệp theo hướng hiện đại, tiếp tục tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của. tỉnh” [1S] thì nhân tổ con người lại cảng có vai rd then chốt, quan trọng. Bình Định có nguồn lao động đồi dao, đó là một năng to lớn để phát triển kinh tế - xã hội, đó là một thế mạnh. Tuy nhiên, nguồn lao động vẫn chưa được sử dụng đầy đủ và có hiệu quả, chất lượng nguồn lao động cũng như năng suất lao. động xã hội còn thấp, cơ cấu lao động không hợp lý. Cơ cấu lao động được phân theo nhiều loại: cơ cấu lao động theo thành phần kinh tế, cơ cấu lao động theo ngành nghề, cơ cấu lao động theo trình độ chuyên. môn, cơ cấu lao động theo ngành kinh tế, cơ cấu lao động theo vùng lãnh thổ, Chuyển dịch cơ cấu lao động tạo điều kiện, là tiền đề cho chuyển địch cơ cấu kinh tế. Cơ cấu lao động phủ hợp sẽ thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, làm cho nền kinh tế phát triể ngược lại cơ cấui lao động không hợp lý sẽ kìm hãm sự. chuyển dich cơ cầu kinh tế. “Theo tổng điều tra dân số và nhà 6 1/4/2009, dân số trong độ tuổi lao động của Bình Định chiếm 57,3% dân số [6, tr. 90], tuy nhiên cơ cấu lao động nhìn chung. chưa hợp lý và chất lượng lao động thấp, dẫn đến tình trạng vừa thừa lại vừa thiếu lao động, thừa lao động phổ thông, nhưng thiểu lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật Trong 10 năm (2001 - 2010), kinh tế Bình Định tăng trưởng khá nhanh và tương đối ôn định, đã có sự chuyển biến tích cực trong cơ cấu kinh tế. Sự chuyển dịch trong cơ cấu kinh tế đòi hỏi phải có sự chuyển dịch tương ứng về cơ cấu lao. Tuy nhiên, sự dịch chuyển của cơ cấu lao động ở tỉnh Bình Định còn chưa phù hợp với sự chuyển dịch của cơ cấu kinh tế. Trong giai đoạn 2001 - 2010, ty trong lao động trong ngành nông, lâm, thủy sản Bình Định chỉ giảm từ 67.3% xuống còn 58,3%; lao động ngành công nghiệp và xây dựng tăng từ 14,8% lên 19.3% và lao động ngành địch vụ tăng từ 17,9% lên 22,4%4, tr. Sự chuyển dịch của cơ cấu lao động so với xu hướng chung cả nước và các tỉnh duyên hải miền Trung là tương đối chậm do đó đã ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế của. từng ngành và cá tính Bình Định. Số liệu thu thập được từ các cuộc điều tra thống kê cho thấy cơ cấu lao động. của Bình Định còn nhiều bắt hợp lý. Do đó, vấn đề cắp thiết đặt ra là phải có giải pháp hợp lý để chuyển dịch cơ cấu lao động của Tỉnh Bình Định, đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế của tinh trong thời gian đến. Vì vậy, tôi đã chọn đề tài “Giải pháp chuyển dịch cơ cầu lao động tỉnh Bình Định” làm luận văn tốt nghiệp. Tổng quan nghiên cứu. “Các nghiên cứu trong nước: *. Võ Xuân Tiến đã nêu quan điểm về việc chuyển dịch cơ cấu lao động vag tuyết việc làm: ~ Việc chuyển dịch cơ cấu lao động phải hướng vào việc tạo điều kiện để thực hiện thành công các nhiệm vụ kinh tế chính trị, thúc đẩy sự chuyển địch cơ cấu kinh. tế theo phương án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội đã được Chính phủ phê duyệt. Tuy nhiên trong quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động cũng có thể xem xét và điều chỉnh một số mối quan hệ cụ thể trong nội bộ các ngành nhằm hoàn thiện cơ cấu kinh tế cho phủ hợp với các điều kiện đã thay đổi. Quan điểm này dựa trên mối quan hệ của lao động và phát triển kinh tế. Trong mối quan hệ này, một mặt lao động đóng vai trở là một yếu tổ sản xuất cơ bản, một nguồn lực mà xã hội phải sử dụng để phát triển kinh tế, vì vậy việc huy động sử dụng nó bao nhiều, ở dau, vào lúc nào sẽ do bản thân nhu cầu phát triển kinh tế quyết định. Mặt khác, bản thân lao động đã là một yếu tố năng động và cách mạng, vai trò cách mạng này thể hiện ở việc nó có thể tạo ra tác động tích cực để cải tạo các yếu tố sản xuất khác, tạo. ra cơ hội lớn hơn cho sản xuất phát triển để từ đó mà thu hút, sử dụng lao động có hiệu qua hon. - Không xem chuyển dịch cơ cấu lao động đơn thuần như là một sự dich chuyển cơ học lao động giữa các ngành, các khu vực trong nẻn kinh tế mà phải xem. nó là một công cụ hữu hiệu để bố trí và tái bố trí nguồn lao động xã hội nhằm mục. đích sử dụng hiệu quả và tiết kiệm nguồn lực này, tạo ra động lực thúc đẩy to lớn và. lâu đài cho phát triển kinh tế, xã hội. Việc chuyển dịch cơ cấu lao động phải đảm bảo sử dụng tiết kiệm và hiệu quả hơn các nguồn lực của xã hội trong đó có nguồn. Điều này đòi hỏi trong quá trình chuyển địch cơ cấu lao động ứng với co cấu kinh tế đã xác định cần phải có sự cân nhắc tính toán cụ thể nhu cầu lao động. dịch chuyển giữa các ngành, các khu vực trong mối quan hệ với đầu tư. Việc quyết định quy mô trang bị kỹ thuật cho lao động sẽ phải được cân nhắc đến yếu tổ hiệu quả vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến nhu cầu lao động. ~ Việc chuyển dịch cơ cấu lao động phải đảm bảo tính ổn định lâu đài nhưng. đồng thời cũng phải tạo ra được những yếu tố linh hoạt cần thiết để có thể điều. chinh khi cần thiết Quan điểm này đòi hỏi việc điều chỉnh cơ cấu lao động một mặt phải hướng vào thực hiện các mục tiêu mang tính chất tổng thể tong khoảng thời gian đài từ 5-10 năm; đó là khoảng thời gian cần thiết để việc chuyển dịch cơ cấu lao động không tạo ra sự biến đông lớn làm ảnh hưởng để mọi hoạt động bình. thường của xã hội. Tuy nhiên, ngày nay do điều kiện phát triển kinh tế xã hội của. một địa phương, một quốc gia luôn bị ảnh hưởng tác động của các nhân tố môi trường bên trong, bên ngoài luôn thay đổi nên bắt buộc các mối quan hệ cân đối đã. được xác lập cũng phải có tính linh hoạt để có thể điều chỉnh khi cần thiết ~ Chuyển địch cơ cấu lao động phải gắn với việc thực hiện các mục tiêu công. bằng và hiệu quả. Muốn vậy phải gắn chuyển dịch cơ cấu lao động với việc gi quyết việc làm cho người lao động, hạn chế tiễn tới xoá bỏ tình trạng thất nghiệp, thiểu việc làm, nâng cao thu nhập cho dân chúng nhằm xoá đói giảm nghèo. dịch cơ cấu lao động chỉ có thể thực hiện được một khi có sự ủng hộ rộng rãi của cdân chúng, vì vậy nó không thể chỉ là sản phẩm chủ quan của các cấp chính quyền mà phải thể hiện được một nhu cẩu that sự của xã hội. Do 46, vige chuyén dich cor cấu lao động phải chứng tỏ được lợi ích trực. p đối với người lao động và din chúng trong ngắn hạn cũng như trong dài hạn. Điều này cũng có nghĩa là khi xem. xét vấn đề hiệu quả của việc chuyển dịch cơ cấu lao động không chỉ đơn thuần là xem xét hiệu quả kinh tế mà còn phải xem xét cá vấn đề hiệu quả xã hội. ~ Chuyển dịch cơ cấu lao động phải đảm bảo tạo ra các tiền đề cần thiết nhằm đây nhanh quá trình CNH, HĐH, nhanh chóng hình thành một nẻn kinh tế tri thức. “Chuyển dịch cơ cấu lao động nhằm đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa hiện đại hóa là tất yếu khách quan đặt ra trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. 'Quan điểm này đòi hỏi khi xây dựng các chính sách chuyển dịch cơ cầu lao động và. giải quyết việc làm phải tính đến việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực theo xu hướng phát triển của khoa học công nghệ đang diễn ra trên thể giới, phù hợp với yêu cầu đặt ra của công cuộc CNH, HĐH đang tiến hành ở Việt Nam. [14] “Theo Trung tâm Thông tin Phân tích và dự báo chiến Iược- Viện Khoa học Lao động và xã hội, xu hướng lao động xã hội giai đoạn 2010-2020 Chuyển dịch cơ cấu dân số tác động mạnh đến chuyển dịch cơ cấu lao động. Lao động nông thôn sẽ giảm và lao động ở vùng thành thị sẽ tăng nhanh. "Như vậy, các áp lực về hạ tng kinh tế và xã hội ở thành thị tiếp tục gia tăng đẻ hấp. thụ số lượng lớn lực lượng lao động từ nông thôn di cư ra đô thị. Cơ cấu việc làm tiếp tục chuyển dịch từ khu vực nông thôn sang thành thị nhưng với tốc độ nhanh hơn. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế tác động đến chuyển dịch cơ cấu lao động. Lao động ngành nông nghiệp sẽ dịch chuyển mạnh sang các ngành công nghiệp và xây dựng, dịch vụ. Cơ cấu lao động làm việc trong 3 nhóm ngành kinh tế khá cân bằng vào cuối thời kỳ 2018-2020. Nông nghiệp không còn là ngành dư thừa lao động và có số đông lao động làm việc nữa. Xu hướng chuyển dich lao động từ nông nghiệp sang. phi nông nghiệp sẽ chậm lại nếu tiền lương của lao động làm trong ngành nông nghiệp đủ để cạnh tranh được với ngành công nghiệp và dịch vụ. Nói cách khác, chuyển địch cơ cấu lao động sau năm 2020 phụ thuộc vào tốc độ tăng năng suất lao. động của mỗi ngành (8, t 13]. Mục tiêu nghiên cứu ~ Nghiên cứu các vấn đề lý luận về cơ cấu lao động, chuyển địch cơ cấu lao đông, xác định các yếu tổ quyết định cho quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động. ~ Phân tích thực trạng chuyển dịch cơ cấu lao động tỉnh Bình Định trong giai đoạn 10 năm 2001-2010, từ đó đánh giá những hạn chế của chuyển địch cơ cấu lao động tỉnh Bình Định trong thời gian qua.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ