đặt vấn đề sửa đổi hoàn toàn chiến lược. Ngược lại, hiệu suất đơn vị kinh doanh kém thì cần phải đặt vấn đẻ đối với chiến lược hiện tại. Để tìm ra chiến lược hợp lý và hiệu quả, đơn vị kinh doanh không chỉ có việc nhắn mạnh tầm quan trọng sự phù hợp của chiến lược đối với môi trường bên ngoài đơn vị kinh doanh đang hoạt động mà đơn vị kinh doanh cần phải xác định và duy 15 trì được những lợi thế cạnh tranh bền vững của mình. Do vậy, việc phân tích những, đặc tính cụ thể của đơn vị kinh doanh: nguồn lực, tiềm lực và năng lực cốt lõi của đơn vị kinh doanh đó đề hiểu sâu hơn về lợi thế cạnh tranh và khả năng chiến lược của đơn vị kinh doanh.
Phân tích môi trường bên trong là xem xét lại vị thế của công ty trên góc độ sự thực hiện chiến lược hiện tại, phân tích các biểu hiện bề ngoài về sức mạnh và điểm yếu của nó. Từ đó đi sâu phân tích lợi thế cạnh tranh của tô chức. Phân tích nguồn lực cña tổ chức Lợi thế cạnh tranh được hiều như là tổng hợp các yếu tố: hiệu quả, chất lượng, sự cải tiến và đáp ứng khách hàng. Chúng là những khối chung của lợi thế cạnh tranh mả một tổ chức có thể làm theo, bắt kể tổ chức đó ở trong ngành nảo, cung cấp sản phẩm, dịch vụ gì.
s* Các nguôn lực Các năng lực cốt lõi (tạo sự khác biệt) của một tổ chức sinh ra từ hai nguồn, đó là: các nguồn lực và khả năng tiềm tàng của nó. Các nguồn lực có thể chia thành hai loại: nguồn lực hữu hình và nguồn lực vô hình. - Các nguồn lực hữu hình có thể thấy được và định lượng được, bao gồm nguồn lực tài chính, tổ chức, các điều kiện vật chất, và công nghệ. ~ Các nguồn vô hình bao gồm nhân sự, khả năng cải tiến và danh tiếng.
Trong việc tạo ra các năng lực cốt lõi, so với các nguồn hữu hình, các nguồn vô hình là nguồn có tác dụng hữu hiệu hơn và nỗi trội hơn. Có nhiều bằng chứng. cho thấy tỷ trọng các nguồn vô hình đang có khuynh hướng tăng lên rất nhanh và chiếm ưu thể so với các nguồn hữu hình. Trong hệ thống các nguồn lực bên trong của tô chức heo nghĩa rộng, bao gồm một loạt các yếu tố.
như: Năng lực tài chính, nhân lực, cơ sở vật chất, khả năng điều hành, cơ cấu tổ chức, marketing, qui mô, hệ thống thông tin, nghiên cứu và phát triển, nguồn danh tiếng của tổ chức. Toàn bộ các nhân tố đó tạo ra nguồn sức mạnh từ bên trong của tô chức, giúp tô chức đạt được mục tiêu mong muốn của mình. Tuy nhiên tắt cả các yếu tố nguồn lực bên trong tự bản thân nó không thể 16 phát huy năng lực cho tổ chức mà phải được tô chức sử dụng các nguồn đó lại với nhau và được xem là khả năng tiềm tàng của tổ chức. s* Các khả năng tiềm tàng Khả năng tiềm tàng là khả năng của công ty sử dụng các nguồn lực đã được tích hợp một cách có mục đích để đạt được một trạng thái mục tiêu mong muốn.
Như là sự liên kết chặt chẽ tổ chức lại với nhau, các khả năng sản sinh theo thời gian thông qua những tương tác giữa các nguồn lực vô hình và hữu hình. Các kỹ năng này tập trung vào các công việc hàng ngày của tổ chức; đó là, cách thức ra các quyết định, quản trị các quá trình bên trong để đạt đến mục tiêu của tổ chức. Khái quát hơn, các khả năng tiềm tang của một công ty là sản phẩm của cấu trúc tổ chức và hệ thống kiểm soát. Chúng xác định các quyết định được làm bằng cách nào và ở đâu trong tổ chức, các hành vi tưởng thưởng, các giá tri và chuẩn mực văn hoá của tổ chức[6, 170].
Tóm lại, với một công ty để có năng lực khác biệt, nó phải có tối thiểu một nguồn lực độc đáo và đáng giá và các khả năng tiềm tàng (các kỹ năng) cần thiết để khai thác nguồn lực đó, hoặc một năng lực độc đáo dé quản trị các nguồn lực chung. Năng lực tạo sự khác biệt của công ty là mạnh nhất khi nó sở hữu cả các nguồn lực độc đáo và đáng giá cùng với năng lực quản trị các nguồn lực đó[6, 171]. s*+ Năng lực cốt lõi Năng lực cốt lõi là các nguồn lực và khả năng của công ty được sử dụng như nguồn tạo ra lợi thế cạnh tranh. Năng lực cốt lõi làm cho một công ty có tính cạnh tranh và phẩm chất riêng có của nó.
Năng lực cốt lõi phát sinh theo thời gian thông, qua quá trình học tập, tích lũy một cách có tổ chức về cách thức khai thác các nguồn lực và khả năng khác nhau. Như một khả năng hành động, các năng lực cốt lõi là "đồ phục sức sang trọng của một công ty", các hoạt động mà công ty thực hiện tốt so với đối thủ cạnh tranh và thông qua đó nó làm tăng giá trị cho các hàng hóa và dịch vụ trong suốt thời gian dài. Để thành công, các doanh nghiệp phải hướng tới các cơ hội của môi trường sao cho khả năng của nó có thể khai thác được, tránh phải đương đầu với những lĩnh vực mà nó có điểm yếu. 17 Khả năng có bảo đảm.
các tiêu chuẩn lợi thể cạnh tranh bền vững không? Hình 1.2 Năng lực cốt lõi như một khả năng chiến liege Theo C. Prahalad và Gary Hamel (1990), năng lực cốt lõi là những kỹ năng và khả năng chủ yếu tạo ra giá trị, được dùng trong các dây chuyền sản xuất hoặc các công việc kinh doanh mà các đối thủ cạnh tranh khó bắt chước, trong khi chúng được. các đơn vị kinh doanh sử dụng theo cách riêng để tạo ra các giá trị đặc biệt, cho phép khách hàng phân biệt được đơn vị kinh doanh với các đối thủ cạnh tranh khác. Một năng lực cốt lõi (năng lực tạo sự khác biệt) là sức mạnh độc đáo cho phép công ty đạt được sự vượt trội về hiệu quả, chất lượng, cải tiến và đáp ứng khách hàng, do đó tạo ra giá trị vượt trội và đạt được ưu thế cạnh tranh.
Công ty có năng lực cốt lõi có thể tạo ra sự khác biệt cho các sản phẩm của nó hoặc đạt được chỉ phí thấp hơn so với đối thủ. Với thành tích đó công ty đã tạo ra nhiều giá trị hơn đối thủ và sẽ nhận được tỷ lệ lợi nhuận cao hơn trung bình ngành [6, 166]. Tạo dựng các năng lực cốt lõi Có hai công cụ giúp các công ty nhận diện và tạo dựng các năng lực cốt lõi: ~ Công cụ thứ nhất bao gồm bốn tiêu chuẩn cụ thể của lợi thé cạnh tranh bền vững mà công ty có thể sử dụng đề xác định các nguồn lực và khả năng có năng trở thành các năng lực cốt lõi hay không. 18 - Công cụ thứ hai là phân tích chuỗi giá tri.
Công ty có thể sử dụng công cụ này để chọn ra các năng lực tạo giá trị cần được duy trì, nâng cắp, hay phát triển và các năng lực cần mua từ bên ngoài. Bắn tiêu chuẩn của lợi thế cạnh tranh bền vững Năng lực cốt lõi phải bảo đảm bốn tiêu chuẩn của lợi thế cạnh tranh bền vững: đáng giá, hiếm, khó bắt chước, không thể thay thế. Các khả năng tiềm tàng không thỏa mãn bốn tiêu chuẩn của lợi thế cạnh tranh bền vững không phải là năng lực cốt lõi. Như vậy, mỗi năng lực cốt lõi là một khả năng, nhưng không phải khả năng nào.
cũng trở thành năng lực cốt lõi. Chỉ có thể đạt được lợi thế cạnh tranh bền vững khi các đối thủ cạnh tranh thất bại trong các nỗ lực nhân bản các lợi ích chiến lược của công ty. Như vậy trong một khoảng thời gian nhất định công ty có thể thu được một lợi thế cạnh tranh bởi việc. sử dụng các khả năng đáng giá, hiếm và khó bắt chước.
Khoảng thời gian đó dài hay ngắn tùy thuộc vào khả năng bắt chước thành công của đối thủ. Lợi thế cạnh tranh bền vững chỉ khi nó thỏa mãn cả bồn tiêu chuẩn. Đáng giá: Khả năng đáng giá cho phép công ty khai thác các cơ hội và hóa giải các đe dọa từ môi trường bên ngoài. Bằng việc khai thác một cách hữu hiệu các cơ hội công ty có thể tạo giá trị cho khách hàng.
Đôi khi các khả năng của công ty có thể trở thành đáng giá thông qua các sửa đổi để hoàn thiện khả năng của họ. Hiếm: Khả năng hiếm nghĩa là khả năng này không có hoặc ít đối thủ cạnh tranh có được khả năng đó. Câu hỏi cơ bản để các nhà quản trị nhận ra tính hiếm của một khả năng là "các đối thủ của công ty có khả năng này không? Và bao nhiêu đối thủ có khả năng như vậy?". Các khả năng có ở nhiều đối thủ cạnh tranh sẽ không phải là lợi thế cạnh tranh cho tất cả các đối thủ có được nó.
Các nguồn lực và khả năng đáng giá nhưng phổ biến là các nguồn làm cân bằng cạnh tranh. Khó bắt chước: Các khả năng khó bắt chước là những khả năng mà các đối thủ không đễ dàng phát triển được nó. Có ba nguyên nhân tạo ra khả năng khó bắt chước. Thứ nhất, khả năng đó được tạo ra từ một điều kiện lịch sử độc đáo.
"Như một 19 quá trình tiến hóa, công ty có được các kỹ năng, các khả năng và các nguồn lực duy. nhất đối với nó, phản ánh con đường phát triển đặc thủ của họ về mặt lịch sử" Các doanh nghiệp đôi khi có được các khả năng độc đáo bởi nó ở đúng thời điểm, đúng. Một doanh nghiệp có một văn hóa tổ chức độc đáo và đáng giá trong giai đoạn lịch sử ban đầu của nó "có thể có một lợi thế mà đối thủ không thể bắt chước mot cách hoàn hảo nếu chúng không thành lập trong giai đoạn lịch sử đó". Bởi trong giai đoạn đó các giá trị hữu ích về cạnh tranh thì ít và các niềm tin ảnh hưởng.
mạnh mẽ đến sự phát triển văn hóa của công ty. Thứ hai là sự mơ hồ về quan hệ nhân quả giữa các khả năng của công ty và lợi thế cạnh tranh của nó làm cho đối thủ khó bắt chước. Trong trường hợp này đối thủ khó có thể hiểu cách thức công ty chuyên hóa khả năng thảnh lợi thế cạnh tranh như thế nào. Do đó, các đối thủ không biết chắc phải phát triển khả năng gì và nhận diện các khả năng ra sao để có thể có được lợi thế cạnh tranh.