CHƯƠNG 1 THO HOANG CAM THACH TRONG THE HE NHA THO NU VIET NAM HIEN DAL 1. THO NU VIET NAM HIEN DAI - MOT VAI NET PHAC THẢO. Bối cảnh hiện thực và giới thuyết “thơ nữ Việt Nam hiện đại Suốt mười thế kỷ, từ thế kỷ X đến cuối thế kỷ XIX, nền văn học viết 'Việt Nam hình thành và phát triển trong môi trường xã hội phong kiến trung. đại, đã đạt được những thành tựu xã hội to lớn, đặc biệt là ở giai đoạn thế kỹ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX.
Nhưng trong giai đoạn này, xuất phát từ ý thức hệ phong kiến, nhất là quan niệm “trọng nam khinh nữ” (Nhất nam viết hữu thập nữ viết vô: một con trai cũng được coï là có, mười con gái cũng bằng không) nên những người phụ nữ làm thơ chỉ được đếm trên đầu ngón tay, hầu hết là những người phụ nữ quý tộc hoặc dính dáng đến tằng lớp quý tộc để được học hành, còn thì vắng bóng những thôn nữ chân lắm tay bùn, mắt toét răng den, lại bị đè nặng bởi thói quen phụ nữ chỉ quanh quẫn nơi xó bếp nên hầu như không được đi học. Có thể kẻ đến một vải nhà thơ nữ: Đoàn Thị Đi |, Bà Huyện Thanh Quan, Ngọc Hân công chúa, Hồ Xuân Hương. Nếu ba nhà thơ đầu có chung một giọng thơ là nỗi buồ tâm cảnh, là tâm trạng nhớ thương người đi xa, là nỗi đau mắt mát người chồng, người anh hùng, v.v và được viết chủ yếu bằng thể thơ Đường luật thất ngôn bát cú hoặc song thất lục bát v.v thì Hồ Xuân Hương đứng tách ra một mảng riêng. Thơ Hồ Xuân Hương tiếp cận hiện thực nhiều hơn, trực tiếp hơn, nhìn thẳng.
vào thực tế xã hội để phán xét nó, giểu nhại nó. Giọng chủ âm thơ Xuân Hương là giọng trào tiểu, giễu nhại, nếu có những tâm sự về phận, về giới mình thì những đau xót thân phận ấy cũng được giấu trong cái nhìn hài hước, trào lộng. Thẻ thơ Hồ Xuân Hương sử dụng cũng là thể thơ Nôm thất ngôn bát cú hoặc tứ tuyệt chứ không phải kiểu trường thiên như CHứnh phụ mgâm (Đoàn Thị Điểm) hay 4i œ văn (Ngọc Hân Công chúa). Hỗ Xuân Hương cũng không phải là nhà thơ xuất thân từ tầng lớp quý tộc mà là nhà thơ lăn lộn nhiều ở cuộc sống nơi thôn dã nên bà không bị rằng buộc nhiều bởi lễ giáo phong kiến nên thơ bà thuộc dòng phong cách bình dân (Không có nhưng mà có mới ngoan; Này của Xuân Hương mới quệt rồi, v.
Đây cũng là người làm thơ duy nhất thời ấy được Xuân Diệu phong danh hiệu *Bà chúa thơ Nom”. Những năm đầu thế kỷ XX, với sự mò mẫm ban đầu của nền văn hoc quốc ngữ nên chưa có thành tựu gì lớn, đặc biệt không xuất hiện nhà thơ nữ. Chỉ đến khoảng thập niên 30 của thế kỷ, khi thực dân Pháp đã hoàn thành xong bước xâm chiếm, giờ ra sức củng cổ địa vị thống trị và khẩn trương bắt tay vào khai thác thuộc địa. Cơ cấu kinh tế, xã hội Việt Nam bắt đầu có những biến đổi theo xu hướng tư bản chủ nghĩa ở một nước thuộc địa Cùng với đó, luồng văn hóa phương Tây thổi sang tạo nên sự biến đổi lớn trong tư duy, lối sống và cảm quan nghệ thuật, ví dụ, xu thế cổ vũ cho tình yêu lứa đôi công khai, xu thế đập vỡ hạt nhân gia đình kiểu phong kiến để chuyển sang gia đình dựa trên cơ sở tự nguyện lựa chọn từ tỉnh yêu được hoan nghênh nhiệt liệt, loại thơ trữ tình điệu ngâm chuyển sang trữ tỉnh diệu nói được hưởng ứng mạnh mẽ, dòng văn học lãng mạn trở thành dòng chủ lưu với Thơ Mới và tiểu thuyết Tự lực văn đoàn bên cạnh dòng văn học hiện thực.
và dòng văn học Cách mạng. Bồi cảnh hiện thực này tạo điều kiện cho việc. xuất hiện khá nhiều nhà thơ nữ với những thành tựu được công chúng đón nhân và đánh giá cao. Đó là các nữ sĩ: Anh Thơ (Chiểu xuân, Bến đỏ ngày mưa, Đêm trăng mờ, v.v), Vân Đài (Tiếng đêm, Cảm hai giọt lệ, Chiều quê, v.v), Hằng Phương (Lòng quế, Ti có hương, Quán cũ trong sương, v.V), Mộng Tuyết (Em xấu hồ, Làm cô gái Huế, v.v) rồi Mộng Huyền, Ngân Giang, Mai Đình, v.
Những nữ sĩ này cùng với các “liền anh” Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Nhược Pháp, Huy Cận, Đỉnh Hùng, v.v làm nên Một thời đại mới trong thi ca” (chit của Hoài Thanh - Hoài Chân) bắt hủ cho đến tận ngày nay. Giai đoạn 1945 - 1975 làm nên một *hởi đại lớn” - thời đại sử thì của 0 năm đánh giặc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Giống như thời kỳ 1932-1945, giai đoạn này hoàn toàn xứng đáng được coi là một thời kỳ đặc biệt, "thời đ lớn” với những đặc trưng riêng mà trước đó chưa có và cũng khác với giai đoạn sau Đổi mới 1986 (thời kỳ 1975 - 1985 thực tế là thời kỳ kéo dài của dư. âm 1945 - 1975 mà lịch sử văn học hay gọi là “quán tinh sử thi”).
Đây là một giai đoạn đặc biệt không chỉ đài nhất (40 năm) mà còn vì mang hai dắt đại nhất trong lịch sử Việt Nam và cả nhân loại ~ Hai cuộc chiến tranh chống “Hai để quốc to là Pháp và Mỹ” (Lời Hồ “Chủ tịch) với sự ác liệt riêng biệt trong cuộc chiến với mỗi loại để quốc. ~ Miền Bắc bước vào xây dựng Xã hội chủ nghĩa (KHCN) làm chỗ dựa chắc chắn cho cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc - một chế độ chưa có tiền lệ rong lịch sử nước nhà. Thời đại đó tạo nên một ý thức hệ riêng, một nếp sống riêng, một lý tưởng riêng, một thẩm mỹ riêng. tạo nên một phong cách thời đại riêng.
‘Chang han, tinh thần công dân nỗi tr trách nhiệm và thái độ: mọi người đều nhìn về một hướng của vận mệnh và tương lai của đất nước, dân tộc; lý tưởng về tổ quốc và CNXH làm nên ý thức hệ thống soái cả giai đoạn; Tâm lý thích đám đông “Ở đồn Mang cá/ Thích hơn ở nhà” (Lượm - Tố Hữu) trở thành phổ biển; cái đẹp được tôn vinh là cái đẹp phục vụ nhiều nhất, cao nhất cho đất nước, cộng đồng, v. Từ đây tạo ra một nền văn học nghệ thuật riêng phục vụ cho thời đại ấy. Có thé còn những hạn chế không tránh khỏi của nền nghệ thuật ấy, còn gây tranh cãi về bản chất văn nghệ của thời đại ấy (quan hệ 10 giữa văn nghệ và chính trị, nền văn nghệ này tiến bộ hay là “khúc gãy” của nên văn học Việt v.v), nhưng không thẻ phú nhận được thành tựu, tầm vóc. lớn lao của nó trong nền văn nghệ nước nhà.
Chỉ xét riêng về thơ và cụ thể hơn là đội ngũ cùng những sáng tác của các nhà thơ nữ thời kỳ này cũng đã cho chúng ta thầy rõ điều ấy Bằng cuộc Cách mạng tháng Tám 1945, chúng ta đã giải phóng dân tộc thoát khỏi ách thống trị của chế độ thuộc địa nửa phong kiến. Nhưng khác với các cuộc khởi nghĩa của các triều đại trước đó trong lịch sử dân tộc (thay thế. triều đại này bằng thời đại khác mà số phận người dân không hề thay đổi), cuộc cách mạng này giải phóng người dân từ kiếp nô lệ lầm than đứng lên làm chủ vận mệnh của mình, tức giải phóng xiêng xích nô lệ hàng ngàn năm. Nhờ thí ìn đầu tiên người phụ nữ được giải thoát thân phận “khinh nữ”, sẵn sàng tham gia vào mọi công cuộc kháng chiến, dựng xây.
những người du kích nữ, dân công nữ tham gia kháng chiến chống Pháp; hình tượng nữ thanh niên xung phong, nữ chiến sĩ tự vệ, nữ chiến sĩ giải phóng cquân trong kháng chiến chống Mỹ; hình tượng nữ cán bộ trí thức, cán bộ khoa học tham gia vào công cuộc dựng xây XHCN, v.v hiện lên đông đảo và góp phần không nhỏ vào thành công của đắt nước, dân tộc chính là được xuất phát từ quan niệm mới của cuộc Cách mạng tháng Tám. Hiện thực này chính là nguồn cảm hứng mãnh liệt cho dòng thơ nữ, tạo nên thành công cả và tác phẩm như một dòng thơ riêng. Có thể nhắc đến những nhà thơ. lượt qua các thế hệ: Anh Thơ, Vân Đài, Hằng Phương, Ngân Giang,.
Xuân Quynh, Phan Thị Thanh Nhàn, Lâm Thị Mỹ Dạ, Lê Thị Kim, Đoàn Thị Lam Luyễn, Dư Thị Hoàn, Ý Nhi, Nguyễn Thị Vân Anh, Hoàng Thị Cẩm Thạch, Nguyễn Thị Phước, Thanh Nguyên, Phạm Thị Ngọc Liên,. Phan Huyền Thư, Ly Hoang Ly, Vi Thay Linh, Phan Thị Vàng Anh, v.v Cũng phải đến thời đại này, với ¡ ngũ đông đảo, với những sáng tác gây " ấn tượng và sức hút mạnh mẽ, với sức đóng góp đáng kể vào sự nghiệp chung của cuộc sống đắt nước và sự nghiệp văn học, và với những nét cá tính, phong. cách tương đối nỗi bật, khái niệm *hơ nữ Việt Nam hiện đạf" mới được chính thức hình thành và được đông đảo người đọc khẳng định. Có thể nói, giới thuyết khái niệm này trong luận văn được xác định qua các đặc điểm sau đây.
~ Đây là các sáng tác của những người phụ nữ làm thơ được đăng bải tập thơ và được công nhận là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam hoặc hội viên Hội "Nhà văn các địa phương tỉnh, thành; ~ Các nhà thơ nữ nói trên sáng tác trong thời gian ít nhất từ 1932, chủ yếu là sáng tác từ 1945 lại nay; ~ Do điều kiện tư liệu và thời gian nên luận văn tập trung chủ yếu giới thiệu một số nhà thơ nữ từ miền Trung trở ra. Phác tháo bức tranh thơ nữ Việt Nam hiện đại Do đội ngũ nhà thơ nữ hết sức đông đảo, hùng hậu và đa phong cách như trên, thật khó có được cái nhìn toàn cảnh và chỉ tiết cy thé dé nói hết được đặc điểm riêng cũng như đánh giá hết sự đóng góp của họ. Vả lại, trong luận văn, đây chỉ là một tiểu mục phục vụ cho nội dung của một chương, dung lượng không cho phép trình bày đầy đủ. Bởi vậy, luận văn xin điểm qua, có tính chất “phác thảo” về một số nhà thơ nữ Việt Nam thời hiện đại theo tiêu chí đã nói ở tiểu mục I.L ~ Nổi lên như một hiện tượng tiêu biểu, làm xao động thi đản của thời kỳ: này là người đàn bà diễn viên múa vừa đẹp người, đẹp tâm hồn Xuân Quỳnh.
Tho Xuân Quỳnh từng làm say đắm bao tâm hồn một thể hệ và khi được cố. nhạc sĩ Phan Huỳnh Điễu phổ nhạc (7huyễn và biển, Thơ tình cuối mùa thu) thì thơ và nhạc đã nương nhau bay lên cao vút, tỏa sáng trong một không gian rộng lớn.