Luận văn thạc sĩ: Phân tích thế giới nghệ thuật trong thơ Hoàng Cẩm Thạch

Khám phá luận văn thạc sĩ về khoa học xã hội và nhân văn, phân tích nghệ thuật thơ Hoàng Cẩm Thạch và những giá trị văn hóa sâu sắc.

Chuyên ngành

Khoa Học Xã Hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn
102
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Hướng dẫn luận văn thế giới nghệ thuật thơ Hoàng Cẩm Thạch

Luận văn thạc sĩ về thế giới nghệ thuật thơ Hoàng Cẩm Thạch là một công trình nghiên cứu khoa học chuyên sâu, tập trung giải mã những giá trị đặc sắc trong sáng tác của một trong những nhà thơ nữ tiêu biểu của văn học Việt Nam đương đại. Công trình này không chỉ hệ thống hóa hành trình sáng tạo của tác giả Hoàng Cẩm Thạch mà còn đi sâu vào các yếu tố cốt lõi tạo nên phong cách thơ Hoàng Cẩm Thạch, từ quan niệm nghệ thuật đến các phương diện thi pháp. Phân tích dựa trên nền tảng lý luận văn họcphê bình văn học hiện đại, luận văn khẳng định vị trí của nhà thơ trong dòng chảy thơ nữ Việt Nam sau năm 1975. Đối tượng khảo sát chính là 7 tập thơ đã xuất bản, bao gồm Giá như em là biển, Thao thức trăng ngàn, và Dấu chân còn ấm hơi Người. Thông qua việc sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh, nghiên cứu đã chỉ ra những đóng góp quan trọng của Hoàng Cẩm Thạch về cả nội dung và hình thức. Đặc biệt, luận văn làm nổi bật sự dung dị, chân thành nhưng cũng đầy sâu lắng trong thơ bà, một tiếng thơ được nuôi dưỡng từ những trải nghiệm sống tại miền Tây Nghệ An. Đây là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, nghiên cứu sinh và những ai yêu mến thơ ca, mong muốn tìm hiểu sâu hơn về một giọng thơ độc đáo, một khóa luận tốt nghiệp văn học giá trị.

1.1. Giới thiệu tác giả Hoàng Cẩm Thạch và vị trí trong văn học

Hoàng Cẩm Thạch, tên thật Hoàng Thị Cẩm Thạch, là một nhà thơ, nhà giáo quê ở Hưng Nguyên, Nghệ An. Bà được biết đến với bút danh Cẩm Thạch và là một gương mặt quen thuộc nhưng cũng đầy mới lạ trong thế hệ nhà thơ nữ Việt Nam hiện đại. Sự nghiệp sáng tác của bà gắn liền với quá trình giảng dạy từ miền ngược đến miền xuôi, những trải nghiệm sống phong phú này đã trở thành nguồn cảm hứng dồi dào cho thơ ca. Với 7 tập thơ đã xuất bản và nhiều giải thưởng văn học, tác giả Hoàng Cẩm Thạch đã khẳng định vị trí vững chắc của mình trên thi đàn. Thơ bà được đánh giá là chân thật, hồn nhiên, giàu nữ tính nhưng không kém phần sâu sắc, góp phần làm phong phú thêm cho bức tranh văn học Việt Nam đương đại.

1.2. Tổng quan các công trình nghiên cứu khoa học về thơ bà

Trước luận văn này, thơ Hoàng Cẩm Thạch đã nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu và phê bình như Thái Doãn Hiểu, Thạch Quỳ. Các bài viết thường ghi nhận thơ bà có “giọng điệu riêng thật thà”, “hồn nhiên, dung dị”. Tuy nhiên, các công trình này chủ yếu là những bài giới thiệu, bình luận ngắn, chưa có một nghiên cứu khoa học nào mang tính hệ thống và toàn diện về thế giới nghệ thuật thơ Hoàng Cẩm Thạch. Luận văn của tác giả Trần Thị Ngọc Yến là công trình đầu tiên khảo sát một cách tổng thể, đi sâu vào các phương diện từ đặc trưng thi pháp đến giá trị nội dung và nghệ thuật, lấp đầy khoảng trống trong lĩnh vực phê bình văn học về nữ sĩ này.

II. Thách thức khi phân tích thơ Hoàng Cẩm Thạch trong bối cảnh mới

Việc phân tích thơ Hoàng Cẩm Thạch đặt ra những thách thức nhất định cho giới nghiên cứu. Thách thức đầu tiên là định vị phong cách thơ Hoàng Cẩm Thạch một cách rõ nét giữa một thế hệ các nhà thơ nữ tài năng như Xuân Quỳnh, Lâm Thị Mỹ Dạ, Ý Nhi. Thơ bà không ồn ào, dữ dội mà lặng lẽ, hiền hòa, dễ bị xem là thiếu sự cách tân táo bạo. Thách thức thứ hai đến từ việc áp dụng các công cụ lý luận văn họcphê bình văn học hiện đại để giải mã một hồn thơ đậm chất truyền thống, giản dị. Việc phân tích đòi hỏi người nghiên cứu phải có sự nhạy cảm đặc biệt để không làm mất đi vẻ đẹp hồn nhiên, chân chất vốn có. Hơn nữa, để hiểu sâu sắc thế giới nghệ thuật thơ Hoàng Cẩm Thạch, cần phải nắm bắt được bối cảnh văn hóa, xã hội và đặc biệt là không gian địa lý miền Tây Nghệ An – nơi đã định hình nên phần lớn cảm hứng và ngôn ngữ thơ của bà. Việc tách bạch giữa trải nghiệm cá nhân của một cô giáo miền núi và tư cách một nhà thơ cũng là một vấn đề phức tạp, đòi hỏi sự tinh tế trong tiếp cận và lý giải.

2.1. Xác định phong cách thơ Hoàng Cẩm Thạch giữa các nhà thơ nữ

So với sự cháy bỏng, đa đoan của Xuân Quỳnh hay chất trí tuệ, suy tư của Ý Nhi, phong cách thơ Hoàng Cẩm Thạch nổi bật ở sự mộc mạc, chân thành và đôn hậu. Thơ bà như lời tâm sự nhỏ nhẹ, được chắt lọc từ cuộc sống thường ngày của một nhà giáo gắn bó với núi rừng. Cái khó trong nghiên cứu là làm nổi bật sự độc đáo trong chính sự giản dị ấy. Phong cách của bà là sự hòa quyện giữa cái tôi trữ tình giàu cảm xúc và cái nhìn nhân ái, bao dung với con người và cuộc sống, tạo nên một dấu ấn riêng biệt nhưng trầm lắng trong dòng thơ nữ văn học Việt Nam đương đại.

2.2. Vấn đề lý luận văn học và phê bình trong tiếp cận

Tiếp cận thơ Hoàng Cẩm Thạch đòi hỏi phải vận dụng linh hoạt các phương pháp lý luận văn học. Việc áp dụng máy móc các lý thuyết về cấu trúc hay hậu hiện đại có thể làm sai lệch tinh thần của tác phẩm. Thay vào đó, phương pháp thi pháp học, kết hợp với nghiên cứu tiểu sử và văn hóa học, tỏ ra hiệu quả hơn. Luận văn đã thành công khi sử dụng thi pháp học để khám phá các yếu tố như không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật, và quan niệm nghệ thuật về con người, qua đó lý giải được sức hấp dẫn bền bỉ từ những vần thơ tưởng chừng đơn sơ của bà.

III. Phương pháp khám phá quan niệm nghệ thuật về con người

Một trong những đóng góp cốt lõi của luận văn là giải mã thành công quan niệm nghệ thuật về con người trong thế giới nghệ thuật thơ Hoàng Cẩm Thạch. Phương pháp chính được sử dụng là phân tích hệ thống hình tượng nghệ thuật, tập trung vào hai mảng đề tài lớn: con người đời thường ở xứ Nghệ và những hình tượng mang tầm vóc lịch sử, biểu tượng. Ở mảng thứ nhất, thơ bà là bức tranh chân thực về những con người Quỳ Châu gần gũi, đôn hậu, những đứa trẻ nghèo khó nhưng giàu nghị lực. Cái nhìn của nhà thơ không phải là sự quan sát từ bên ngoài mà là sự đồng cảm, thấu hiểu từ một người đã sống và gắn bó máu thịt với họ. Ở mảng thứ hai, cái tôi trữ tình của Hoàng Cẩm Thạch được thể hiện rõ nét qua những vần thơ thành kính, thiêng liêng về Bác Hồ và những người lính biển đảo. Thông qua việc xây dựng các hình tượng này, nhà thơ không chỉ ca ngợi những phẩm chất cao đẹp mà còn gửi gắm tình yêu quê hương, đất nước sâu sắc. Bằng bút pháp nghệ thuật dung dị, bà đã khắc họa thành công vẻ đẹp con người Việt Nam vừa bình dị, vừa vĩ đại.

3.1. Phân tích hình tượng con người xứ Nghệ chân chất đôn hậu

Hình tượng nghệ thuật nổi bật nhất trong thơ Hoàng Cẩm Thạch là con người miền Tây Nghệ An. Họ hiện lên với vẻ đẹp mộc mạc, hiền lành và giàu tình nghĩa. Đó là những em bé “áo chưa đủ ấm” nhưng “ánh mắt lung linh”, là những con người dù sống trong nghèo khó nhưng luôn giữ trọn vẹn nét ban sơ, lương thiện. Quan niệm nghệ thuật về con người của bà bắt nguồn từ lòng yêu thương, trân trọng những giá trị bình dị. Bà nhìn thấy vẻ đẹp trong chính sự lam lũ, vất vả của họ, như trong các bài Vui bếp lửa nhà sàn hay Nhịp cầu Chôm Lôm.

3.2. Giải mã cái tôi trữ tình qua hình tượng Bác Hồ người lính

Cái tôi trữ tình trong thơ Hoàng Cẩm Thạch còn là tiếng nói của một công dân có trách nhiệm với đất nước. Điều này được thể hiện sâu sắc qua tập thơ Dấu chân còn ấm hơi Người viết về Bác Hồ và những bài thơ về Trường Sa. Hình tượng Bác Hồ hiện lên gần gũi, thân thương như một người cha, một người con của quê hương xứ Nghệ. Hình ảnh người lính biển hiên ngang, kiên cường giữa sóng gió thể hiện lòng tự hào dân tộc. Qua đó, cái tôi trữ tình của nhà thơ hòa quyện giữa tình cảm cá nhân và tình yêu lớn lao dành cho Tổ quốc.

IV. Bí quyết giải mã các đặc trưng thi pháp trong thơ Cẩm Thạch

Để giải mã thành công thế giới nghệ thuật thơ Hoàng Cẩm Thạch, luận văn đã tập trung vào việc phân tích các đặc trưng thi pháp nổi bật. Bí quyết nằm ở việc tiếp cận thơ bà từ chính những yếu tố cốt lõi của thi ca: không gian, thời gian, ngôn ngữ và giọng điệu. Không gian trong thơ bà chủ yếu là không gian nghệ thuật núi rừng miền Tây Nghệ An, một không gian trong trẻo, nguyên sơ, vừa hiện thực vừa nhuốm màu cổ tích. Về thời gian nghệ thuật, thơ bà thường là dòng chảy của ký ức, của hoài niệm về những năm tháng thanh xuân gắn bó với núi rừng, tạo nên một chiều sâu cảm xúc đầy lắng đọng. Đặc biệt, ngôn ngữ thơ là một trong những thành công lớn nhất của Hoàng Cẩm Thạch. Bà sử dụng ngôn từ giản dị, mộc mạc, gần với lời ăn tiếng nói hàng ngày nhưng được chắt lọc và giàu sức gợi. Bút pháp nghệ thuật của bà không cầu kỳ, chủ yếu sử dụng các biện pháp tu từ truyền thống một cách tự nhiên, tinh tế. Giọng điệu chủ đạo là tâm tình, thủ thỉ, cảm thông, ngợi ca và thành kính. Sự kết hợp hài hòa các yếu tố này tạo nên một thế giới thơ độc đáo, mang đậm dấu ấn cá nhân.

4.1. Khảo sát không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật

Không gian nghệ thuật trong thơ Hoàng Cẩm Thạch là núi rừng Phủ Quỳ, là bản làng Quỳ Châu với “tiếng chày cùm cụp”, “khói lam chiều”. Đó là không gian của sự gắn bó, bình yên. Về thời gian nghệ thuật, đó là thời gian của kỷ niệm, của sự “thao thức trăng ngàn”. Thời gian không trôi tuyến tính mà lắng đọng trong tâm tưởng, khiến mỗi vần thơ đều mang nỗi niềm hoài niệm, day dứt về một miền đất đã trở thành quê hương thứ hai.

4.2. Đặc trưng thi pháp qua ngôn ngữ thơ và bút pháp nghệ thuật

Một đặc trưng thi pháp quan trọng là việc sử dụng ngôn ngữ thơ. Ngôn từ của bà “giản dị mà sâu lắng”, mang hơi thở của đời sống miền núi, ví dụ như cách nói “nhớ anh buôn kín núi”. Bút pháp nghệ thuật của bà thể hiện qua việc vận dụng linh hoạt các thể thơ, từ lục bát truyền thống đến thơ tự do, kết hợp với các biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa một cách hồn nhiên, không dụng công. Chính sự giản dị này đã tạo nên sức lay động mạnh mẽ cho thơ bà.

V. Top những giá trị nội dung và nghệ thuật thơ Hoàng Cẩm Thạch

Luận văn đã tổng kết những giá trị nội dung và nghệ thuật cốt lõi, khẳng định đóng góp của Hoàng Cẩm Thạch cho nền thơ ca Việt Nam. Về nội dung, thơ bà thể hiện sâu sắc tình yêu thiên nhiên, con người và quê hương đất nước. Tình yêu ấy không chung chung, trừu tượng mà cụ thể, gắn liền với mảnh đất miền Tây Nghệ An, với những số phận, những cuộc đời bình dị. Thơ bà còn là tiếng lòng của một người phụ nữ với những trăn trở về tình yêu, hạnh phúc và lẽ sống. Về nghệ thuật, thành công lớn nhất của Hoàng Cẩm Thạch là đã xây dựng được một phong cách thơ riêng, không thể trộn lẫn: mộc mạc, chân thành và giàu nữ tính. Bà đã chứng minh rằng, không cần đến những kỹ thuật phức tạp hay ngôn từ tân kỳ, sự chân thành của cảm xúc và sự tinh tế trong quan sát vẫn có thể tạo nên những vần thơ có sức sống lâu bền. Những đóng góp này giúp thơ Hoàng Cẩm Thạch trở thành một đối tượng nghiên cứu hấp dẫn, một tư liệu quý giá trong giảng dạy văn học Việt Nam đương đại, đặc biệt là trong các chuyên đề về thơ nữ.

5.1. Đóng góp của thơ Hoàng Cẩm Thạch cho văn học đương đại

Đóng góp quan trọng nhất của Hoàng Cẩm Thạch là mang đến cho văn học Việt Nam đương đại một tiếng thơ nữ tính, đôn hậu, giàu tình người. Bà đã mở ra một mảng đề tài riêng biệt về cuộc sống và con người miền Tây xứ Nghệ, làm phong phú thêm bản đồ địa văn hóa của thơ ca Việt Nam. Hơn 20 bài thơ của bà được phổ nhạc là minh chứng cho sức lan tỏa và sự đồng điệu của thơ bà với tâm hồn công chúng.

5.2. Ứng dụng kết quả nghiên cứu trong giảng dạy và phê bình

Kết quả từ các khóa luận tốt nghiệp văn học và luận văn thạc sĩ về Hoàng Cẩm Thạch cung cấp một hệ thống luận điểm khoa học, chặt chẽ. Nó có thể được ứng dụng trực tiếp vào việc biên soạn giáo trình, tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy thơ Hoàng Cẩm Thạch trong nhà trường. Đồng thời, công trình mở ra hướng tiếp cận mới cho hoạt động phê bình văn học, khuyến khích sự quan tâm sâu sắc hơn đến những giọng thơ dung dị nhưng độc đáo, góp phần đánh giá toàn diện hơn diện mạo thơ ca Việt Nam thời kỳ đổi mới.

27/07/2025
Luận văn thạc sĩ khoa học xã hội và nhân văn thế giới nghệ thuật thơ hoàng cẩm thạch

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 THO HOANG CAM THACH TRONG THE HE NHA THO NU VIET NAM HIEN DAL 1. THO NU VIET NAM HIEN DAI - MOT VAI NET PHAC THẢO. Bối cảnh hiện thực và giới thuyết “thơ nữ Việt Nam hiện đại Suốt mười thế kỷ, từ thế kỷ X đến cuối thế kỷ XIX, nền văn học viết 'Việt Nam hình thành và phát triển trong môi trường xã hội phong kiến trung. đại, đã đạt được những thành tựu xã hội to lớn, đặc biệt là ở giai đoạn thế kỹ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX.

Nhưng trong giai đoạn này, xuất phát từ ý thức hệ phong kiến, nhất là quan niệm “trọng nam khinh nữ” (Nhất nam viết hữu thập nữ viết vô: một con trai cũng được coï là có, mười con gái cũng bằng không) nên những người phụ nữ làm thơ chỉ được đếm trên đầu ngón tay, hầu hết là những người phụ nữ quý tộc hoặc dính dáng đến tằng lớp quý tộc để được học hành, còn thì vắng bóng những thôn nữ chân lắm tay bùn, mắt toét răng den, lại bị đè nặng bởi thói quen phụ nữ chỉ quanh quẫn nơi xó bếp nên hầu như không được đi học. Có thể kẻ đến một vải nhà thơ nữ: Đoàn Thị Đi |, Bà Huyện Thanh Quan, Ngọc Hân công chúa, Hồ Xuân Hương. Nếu ba nhà thơ đầu có chung một giọng thơ là nỗi buồ tâm cảnh, là tâm trạng nhớ thương người đi xa, là nỗi đau mắt mát người chồng, người anh hùng, v.v và được viết chủ yếu bằng thể thơ Đường luật thất ngôn bát cú hoặc song thất lục bát v.v thì Hồ Xuân Hương đứng tách ra một mảng riêng. Thơ Hồ Xuân Hương tiếp cận hiện thực nhiều hơn, trực tiếp hơn, nhìn thẳng.

vào thực tế xã hội để phán xét nó, giểu nhại nó. Giọng chủ âm thơ Xuân Hương là giọng trào tiểu, giễu nhại, nếu có những tâm sự về phận, về giới mình thì những đau xót thân phận ấy cũng được giấu trong cái nhìn hài hước, trào lộng. Thẻ thơ Hồ Xuân Hương sử dụng cũng là thể thơ Nôm thất ngôn bát cú hoặc tứ tuyệt chứ không phải kiểu trường thiên như CHứnh phụ mgâm (Đoàn Thị Điểm) hay 4i œ văn (Ngọc Hân Công chúa). Hỗ Xuân Hương cũng không phải là nhà thơ xuất thân từ tầng lớp quý tộc mà là nhà thơ lăn lộn nhiều ở cuộc sống nơi thôn dã nên bà không bị rằng buộc nhiều bởi lễ giáo phong kiến nên thơ bà thuộc dòng phong cách bình dân (Không có nhưng mà có mới ngoan; Này của Xuân Hương mới quệt rồi, v.

Đây cũng là người làm thơ duy nhất thời ấy được Xuân Diệu phong danh hiệu *Bà chúa thơ Nom”. Những năm đầu thế kỷ XX, với sự mò mẫm ban đầu của nền văn hoc quốc ngữ nên chưa có thành tựu gì lớn, đặc biệt không xuất hiện nhà thơ nữ. Chỉ đến khoảng thập niên 30 của thế kỷ, khi thực dân Pháp đã hoàn thành xong bước xâm chiếm, giờ ra sức củng cổ địa vị thống trị và khẩn trương bắt tay vào khai thác thuộc địa. Cơ cấu kinh tế, xã hội Việt Nam bắt đầu có những biến đổi theo xu hướng tư bản chủ nghĩa ở một nước thuộc địa Cùng với đó, luồng văn hóa phương Tây thổi sang tạo nên sự biến đổi lớn trong tư duy, lối sống và cảm quan nghệ thuật, ví dụ, xu thế cổ vũ cho tình yêu lứa đôi công khai, xu thế đập vỡ hạt nhân gia đình kiểu phong kiến để chuyển sang gia đình dựa trên cơ sở tự nguyện lựa chọn từ tỉnh yêu được hoan nghênh nhiệt liệt, loại thơ trữ tình điệu ngâm chuyển sang trữ tỉnh diệu nói được hưởng ứng mạnh mẽ, dòng văn học lãng mạn trở thành dòng chủ lưu với Thơ Mới và tiểu thuyết Tự lực văn đoàn bên cạnh dòng văn học hiện thực.

và dòng văn học Cách mạng. Bồi cảnh hiện thực này tạo điều kiện cho việc. xuất hiện khá nhiều nhà thơ nữ với những thành tựu được công chúng đón nhân và đánh giá cao. Đó là các nữ sĩ: Anh Thơ (Chiểu xuân, Bến đỏ ngày mưa, Đêm trăng mờ, v.v), Vân Đài (Tiếng đêm, Cảm hai giọt lệ, Chiều quê, v.v), Hằng Phương (Lòng quế, Ti có hương, Quán cũ trong sương, v.V), Mộng Tuyết (Em xấu hồ, Làm cô gái Huế, v.v) rồi Mộng Huyền, Ngân Giang, Mai Đình, v.

Những nữ sĩ này cùng với các “liền anh” Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Nhược Pháp, Huy Cận, Đỉnh Hùng, v.v làm nên Một thời đại mới trong thi ca” (chit của Hoài Thanh - Hoài Chân) bắt hủ cho đến tận ngày nay. Giai đoạn 1945 - 1975 làm nên một *hởi đại lớn” - thời đại sử thì của 0 năm đánh giặc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Giống như thời kỳ 1932-1945, giai đoạn này hoàn toàn xứng đáng được coi là một thời kỳ đặc biệt, "thời đ lớn” với những đặc trưng riêng mà trước đó chưa có và cũng khác với giai đoạn sau Đổi mới 1986 (thời kỳ 1975 - 1985 thực tế là thời kỳ kéo dài của dư. âm 1945 - 1975 mà lịch sử văn học hay gọi là “quán tinh sử thi”).

Đây là một giai đoạn đặc biệt không chỉ đài nhất (40 năm) mà còn vì mang hai dắt đại nhất trong lịch sử Việt Nam và cả nhân loại ~ Hai cuộc chiến tranh chống “Hai để quốc to là Pháp và Mỹ” (Lời Hồ “Chủ tịch) với sự ác liệt riêng biệt trong cuộc chiến với mỗi loại để quốc. ~ Miền Bắc bước vào xây dựng Xã hội chủ nghĩa (KHCN) làm chỗ dựa chắc chắn cho cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc - một chế độ chưa có tiền lệ rong lịch sử nước nhà. Thời đại đó tạo nên một ý thức hệ riêng, một nếp sống riêng, một lý tưởng riêng, một thẩm mỹ riêng. tạo nên một phong cách thời đại riêng.

‘Chang han, tinh thần công dân nỗi tr trách nhiệm và thái độ: mọi người đều nhìn về một hướng của vận mệnh và tương lai của đất nước, dân tộc; lý tưởng về tổ quốc và CNXH làm nên ý thức hệ thống soái cả giai đoạn; Tâm lý thích đám đông “Ở đồn Mang cá/ Thích hơn ở nhà” (Lượm - Tố Hữu) trở thành phổ biển; cái đẹp được tôn vinh là cái đẹp phục vụ nhiều nhất, cao nhất cho đất nước, cộng đồng, v. Từ đây tạo ra một nền văn học nghệ thuật riêng phục vụ cho thời đại ấy. Có thé còn những hạn chế không tránh khỏi của nền nghệ thuật ấy, còn gây tranh cãi về bản chất văn nghệ của thời đại ấy (quan hệ 10 giữa văn nghệ và chính trị, nền văn nghệ này tiến bộ hay là “khúc gãy” của nên văn học Việt v.v), nhưng không thẻ phú nhận được thành tựu, tầm vóc. lớn lao của nó trong nền văn nghệ nước nhà.

Chỉ xét riêng về thơ và cụ thể hơn là đội ngũ cùng những sáng tác của các nhà thơ nữ thời kỳ này cũng đã cho chúng ta thầy rõ điều ấy Bằng cuộc Cách mạng tháng Tám 1945, chúng ta đã giải phóng dân tộc thoát khỏi ách thống trị của chế độ thuộc địa nửa phong kiến. Nhưng khác với các cuộc khởi nghĩa của các triều đại trước đó trong lịch sử dân tộc (thay thế. triều đại này bằng thời đại khác mà số phận người dân không hề thay đổi), cuộc cách mạng này giải phóng người dân từ kiếp nô lệ lầm than đứng lên làm chủ vận mệnh của mình, tức giải phóng xiêng xích nô lệ hàng ngàn năm. Nhờ thí ìn đầu tiên người phụ nữ được giải thoát thân phận “khinh nữ”, sẵn sàng tham gia vào mọi công cuộc kháng chiến, dựng xây.

những người du kích nữ, dân công nữ tham gia kháng chiến chống Pháp; hình tượng nữ thanh niên xung phong, nữ chiến sĩ tự vệ, nữ chiến sĩ giải phóng cquân trong kháng chiến chống Mỹ; hình tượng nữ cán bộ trí thức, cán bộ khoa học tham gia vào công cuộc dựng xây XHCN, v.v hiện lên đông đảo và góp phần không nhỏ vào thành công của đắt nước, dân tộc chính là được xuất phát từ quan niệm mới của cuộc Cách mạng tháng Tám. Hiện thực này chính là nguồn cảm hứng mãnh liệt cho dòng thơ nữ, tạo nên thành công cả và tác phẩm như một dòng thơ riêng. Có thể nhắc đến những nhà thơ. lượt qua các thế hệ: Anh Thơ, Vân Đài, Hằng Phương, Ngân Giang,.

Xuân Quynh, Phan Thị Thanh Nhàn, Lâm Thị Mỹ Dạ, Lê Thị Kim, Đoàn Thị Lam Luyễn, Dư Thị Hoàn, Ý Nhi, Nguyễn Thị Vân Anh, Hoàng Thị Cẩm Thạch, Nguyễn Thị Phước, Thanh Nguyên, Phạm Thị Ngọc Liên,. Phan Huyền Thư, Ly Hoang Ly, Vi Thay Linh, Phan Thị Vàng Anh, v.v Cũng phải đến thời đại này, với ¡ ngũ đông đảo, với những sáng tác gây " ấn tượng và sức hút mạnh mẽ, với sức đóng góp đáng kể vào sự nghiệp chung của cuộc sống đắt nước và sự nghiệp văn học, và với những nét cá tính, phong. cách tương đối nỗi bật, khái niệm *hơ nữ Việt Nam hiện đạf" mới được chính thức hình thành và được đông đảo người đọc khẳng định. Có thể nói, giới thuyết khái niệm này trong luận văn được xác định qua các đặc điểm sau đây.

~ Đây là các sáng tác của những người phụ nữ làm thơ được đăng bải tập thơ và được công nhận là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam hoặc hội viên Hội "Nhà văn các địa phương tỉnh, thành; ~ Các nhà thơ nữ nói trên sáng tác trong thời gian ít nhất từ 1932, chủ yếu là sáng tác từ 1945 lại nay; ~ Do điều kiện tư liệu và thời gian nên luận văn tập trung chủ yếu giới thiệu một số nhà thơ nữ từ miền Trung trở ra. Phác tháo bức tranh thơ nữ Việt Nam hiện đại Do đội ngũ nhà thơ nữ hết sức đông đảo, hùng hậu và đa phong cách như trên, thật khó có được cái nhìn toàn cảnh và chỉ tiết cy thé dé nói hết được đặc điểm riêng cũng như đánh giá hết sự đóng góp của họ. Vả lại, trong luận văn, đây chỉ là một tiểu mục phục vụ cho nội dung của một chương, dung lượng không cho phép trình bày đầy đủ. Bởi vậy, luận văn xin điểm qua, có tính chất “phác thảo” về một số nhà thơ nữ Việt Nam thời hiện đại theo tiêu chí đã nói ở tiểu mục I.L ~ Nổi lên như một hiện tượng tiêu biểu, làm xao động thi đản của thời kỳ: này là người đàn bà diễn viên múa vừa đẹp người, đẹp tâm hồn Xuân Quỳnh.

Tho Xuân Quỳnh từng làm say đắm bao tâm hồn một thể hệ và khi được cố. nhạc sĩ Phan Huỳnh Điễu phổ nhạc (7huyễn và biển, Thơ tình cuối mùa thu) thì thơ và nhạc đã nương nhau bay lên cao vút, tỏa sáng trong một không gian rộng lớn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ