Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Giáo dục mầm non giữ vị trí hết sức quan trọng trong sự phát triển của một cá nhân. Đây là giai đoạn nền tảng đặt tiền đề cho sự hình thành các phẩm chất sau này của con người. Lứa tuổi MN cần sự chăm sóc đặc biệt bởi giai đoạn lứa tuổi này trẻ thường bộc lộ các thiên hướng nếu giáo viên biết phát hiện và nuôi dưỡng những giá trị đó thì sẽ tạo điều kiện tốt cho trẻ phát triển sau này.
Để làm được điều đó thì ngoài lòng mến trẻ, yêu nghề thì năng lực chuyên môn của GV quyết định rất lớn đến hiệu quả của hoạt động GD. Đào tạo và bồi dưỡng thường xuyên là chủ trương đúng đắn hiện nay của nhà nước đối với ngành giáo dục, đặc biệt là giáo dục mầm non. Tuy nhiên, công tác QL giáo viên và các hoạt động liên quan đến đội ngũ GVMN hiện nay chưa thực sự được quan tâm và đầu tư nhiều. Mặc dù đây là hoạt động cơ sở nền tảng cho mọi hoạt động khác trong môi trường sư phạm.
Những nghiên cứu ở nước ngoài Nhận thức được tầm quan trọng cấp học đầu đời của trẻ nên các quốc gia có nền GD phát triển đặc biệt quan tâm đến chất lượng của ĐNGV ở cấp học này từ khâu đào tạo chuyên môn đến các tố chất về nghề nghiệp và cả hồ sơ xin việc của họ. Luận văn thạc sĩ Khoa học giáo dục 8 Dưới đây là một số cách thức quản lí và lựa chọn GVMN của các quốc gia trên thế giới: Pháp là quốc gia có quy trình tuyển chọn GVMN nghiêm ngặt. Ngoài việc đáp ứng về bằng cấp chuyên môn đúng chuẩn chương trình đào tạo thì các ứng cử viên cần phải trải qua các cuộc sát hạch mang tính sàng lọc rất cao như: Khả năng diễn xuất trước trẻ, khả năng bơi lội, sự nhanh lẹ ứng phó với các tình huống khẩn cấp trong trường học… chỉ những ứng viên nào vượt qua xuất sắc mới được nhận (Phiêu Linh, 2017). Mỹ là quốc gia có nền giáo dục phát triển.
Hệ thống GDMN của Mỹ rất được quan tâm đầu tư về cơ sở vật chất và trình độ chuyên môn của GV. Theo những nghiên cứu được tiến hành tại quốc gia này thì những đứa trẻ được học tại các cơ sở MN chất lượng cao thì lớn lên sẽ có tương lai tốt hơn. Về giáo viên, để tham gia giảng dạy tại các trường MN của Mỹ thì các ứng viên cần đáp ứng “Theo Cục Thống kê Lao động Mỹ, các giáo viên mầm non được tuyển dụng bởi chương trình liên bang Head Start, ít nhất phải có bằng Associate's degree. Giáo viên đạt trình độ này có các kỹ năng bao gồm sáng tạo trong học tập, quan sát trẻ em, giáo dục sức khỏe và dinh dưỡng, dạy chữ viết cho trẻ nhỏ và nắm bắt nhu cầu của trẻ đặc biệt” (Phiêu Linh, 2017).
Về các chi phí cho học tập – theo trích dẫn của nguồn trên “Theo báo cáo của tổ chức nhận thức việc chăm sóc trẻ em của Mỹ (Child Care Aware of America, chi phí chăm sóc trẻ 4 tuổi tại các cơ sở được cấp phép "ngốn" tối thiểu 4.500 đô-la Mỹ/năm và cao nhất là 14.000 đôla Mỹ/năm của mỗi gia đình”. Như vậy có thể thấy các nguồn lực dành cho GD ở cấp học này tại Mỹ là rất lớn. Nhật Bản là quốc gia có nền GD phát triển cao. Quốc gia này chủ trương phát triển con người toàn diện nên mục tiêu GD của họ là hiện đại kế thừa và phát huy tối đa bản sắc văn hóa dân tộc.
Giáo dục mầm non của Nhật là một điển hình. Từ nhỏ trẻ em đã phải học cách tự lập, biết tôn trọng bản thân và tôn trọng người khác. Giáo viên ở cấp học này ngoài các yêu cầu chuyên môn bắt buộc thì việc phải có các giấy phép do cơ quan quản lí nhà nước cấp là yêu cầu không thể thiếu (Phiêu Linh, 2017). Luận văn thạc sĩ Khoa học giáo dục 9 Singapore là quốc gia Đông Nam Á đầu tư cho GDMN mạnh nhất với hơn 900 triệu đô-la Singapore và đến năm 2022 ngân sách này sẽ được tăng gấp đôi.
Đội ngũ giáo viên MN của nước này được áp dụng hình thức đào tạo như những bậc GV cao hơn. Quá trình tuyển chọn GV của quốc gia này cũng vô cùng khắt khe. Vì Singapore là quốc gia có dân số đến từ nhiều vùng và lãnh thổ khác nhau trên thế giới nên GVMN ở quốc đảo này ngoài chuyên môn thì yếu tố hiểu biết đa văn hóa rất được quan tâm. Theo quan điểm lãnh đạo của Singapore nếu “Thúc đẩy giáo dục sớm ở trẻ em sẽ giúp tăng tính linh hoạt của xã hội và duy trì một xã hội công bằng”.
Từ quan điểm đó nên Viện phát triển Giáo dục Mầm non quốc gia (National Institute of Early Childhood Development/NIEC) tham gia đào đạo GVMN sẽ được đầu tư mạnh mẽ hơn. Sinh viên tốt nghiệp sẽ được căn cứ vào năng lực và các tố chất có thể được đào tạo tiếp để làm GV hoặc sẽ được đào tạo làm quản lí trường học. Có ý kiến cho rằng:“Tư cách lãnh đạo thật sự không nằm ở địa vị mà ở cách thức suy nghĩ và hành động của mỗi người: nó nằm trong chất cao thượng của mục đích và mục tiêu mà họ đặt ra cho chính mình”. Tầm nhìn các Tiểu Vương Quốc Ả Rập thống nhất (UAE) 2021, xem giáo dục hạng nhất, bởi vì: “Sự tiến bộ của các quốc gia, con người và nền văn minh đều bắt đầu với giáo dục.
Tương lai của các quốc gia bắt đầu từ các trường học” (Maktoum, 2016, tr. Từ những cách thức quản lí khác nhau bậc học Mầm non của các quốc gia và cách nhìn nhận về tầm quan trọng của giáo dục đầu đời dành cho trẻ của các học giả trên thế giới. Người nghiên cứu nhận thấy, các hoạt động liên quan đến công tác quản lí ĐNGVMN hiện nay ở nước ta cần có nhiều cách tiếp cận khác nhau nhằm cải tiến và nâng cao hoạt động giảng dạy cũng như quản lí ĐNGV ở bậc học này. Những nghiên cứu trong nước Dân tộc Việt Nam đã có truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo, hình ảnh của người thầy/cô giáo luôn là hình tượng cao đẹp cho các thế hệ HS noi theo.
Trong bức thư gửi cán bộ, cô giáo, thầy giáo, công nhân viên, HS, sinh viên vào năm học mới ngày 15 tháng 10 năm 1968, Bác Hồ đã viết: “Nhiệm vụ của cô giáo, Luận văn thạc sĩ Khoa học giáo dục 10 thầy giáo là rất quan trọng và rất vẻ vang. Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng. Cần phải phát huy đầy đủ dân chủ XHCN, xây dựng quan hệ thật tốt, đoàn kết thật chặt chẽ giữa thầy và thầy, giữa thầy và trò, giữa học trò với nhau, giữa cán bộ các cấp, giữa nhà trường và nhân dân để hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ đó”. Đồng thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá cao vai trò ĐNGV và công chức - viên chức QL giáo dục chính là người quyết định chất lượng giáo dục: “Anh chị em là đội tiên phong trong sự nghiệp tiêu diệt giặc dốt.
Anh chị em chịu cực khổ, khó nhọc, hi sinh phấn đấu để mở mang tri thức phổ thông cho đồng bào, để xây đắp nền văn hóa sơ bộ cho dân tộc” (Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, tr. Yêu cầu phát triển GD&ĐT trong sự nghiệp CNH-HĐH đất nước đòi hỏi phải xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ giáo dục chuẩn hóa, đảm bảo chất lượng đủ về số lượng và đồng bộ về cơ cấu. Chất lượng của GD suy cho cùng trước hết là chất lượng của đội ngũ làm công tác giảng dạy, đây là yếu tố cơ bản quyết định đến sự thành bại của cải cách GD hiện nay. Cho nên, đổi mới, cải tiến chương trình giáo dục trước hết phải đổi mới công tác QL đội ngũ nhà giáo.
Theo quy hoạch phát triển nguồn nhân lực của Bộ GD&ĐT. Chiến lược phát triển KT-XH giai đoạn 2011-2020, được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua, đã chỉ rõ: Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu. Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế QL giáo dục, phát triển đội ngũ GV và CBQL là khâu then chốt (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2011). Những năm qua, chúng ta đã xây dựng được đội ngũ nhà giáo, CBQL giáo dục và cán bộ phục vụ trong các cơ sở giáo dục ngày càng đông đảo, có phẩm chất đạo đức và ý thức chính trị tốt, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ ngày càng được nâng cao.
Tuy nhiên, công tác phát triển ĐNGV, cán bộ QL giáo dục đã bộc lộ những hạn chế, ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả giáo dục. Cụ thể là: Sự phát triển ĐNGV không theo kịp với sự gia tăng quy mô và yêu cầu ngày càng cao về chất lượng GD, đặc biệt GD nghề nghiệp và GD đại học. Luận văn thạc sĩ Khoa học giáo dục 11 Sự phát triển ĐNGV và CBQL chưa gắn kết chặt chẽ với những chính sách đổi mới và chiến lược giáo dục. Việc đào tạo ĐNGV không gắn với nhu cầu tuyển dụng về số lượng, cơ cấu cấp học, môn học cho giáo dục ở nhiều vùng miền khác nhau dẫn đến tình trạng thừa, thiếu GV ngay trong từng cơ sở giáo dục và ở hầu hết các địa phương.
Chất lượng của ĐNGV còn nhiều bất cập, do vậy việc đổi mới chương trình, phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá diễn ra chậm. Những bất cập trên đây có nguyên nhân chủ yếu là chúng ta chưa có quy hoạch nhân lực GV, CBQL giáo dục, nhân viên để làm cơ sở cho việc quy hoạch mạng lưới các trường sư phạm, các cơ sở bồi dưỡng GV, CBQL, đổi mới chương trình đào tạo GV, đổi mới chính sách cơ chế tuyển dụng, sử dụng đánh giá và đãi ngộ phù hợp. Vì thế, việc quy hoạch nhân lực ĐNGV và CBQL trong ngành GD&ĐT là một nhiệm vụ cấp thiết, góp phần quan trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả GD, thực hiện thắng lợi Chiến lược phát triển KT-XH giai đoạn 2010-2020 của đất nước.