Kết quả điều trị nội tiết bệnh ung thư tuyến tiền liệt tại Bệnh viện Bạch Mai

Đánh giá hiệu quả điều trị nội tiết ung thư tuyến tiền liệt tại Bệnh viện Bạch Mai, phân tích kết quả và phương pháp áp dụng trong thực tiễn.

Chuyên ngành

Y đa khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2021

59
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. DỊCH TỄ HỌC

1.2. Tỉ lệ và xu hướng mắc bệnh

1.3. Tỉ lệ và xu hướng tử vong

1.4. Yếu tố nguy cơ

1.5. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG

1.5.1. Triệu chứng cơ năng

1.5.2. Triệu chứng thực thể

1.6. ĐẶC ĐIỂM CẬN LÂM SÀNG

1.6.1. PSA

1.6.2. Tỉ lệ PSA tự do/toàn phần (f/t–PSA)

1.6.3. Các xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh

1.6.4. Sinh thiết tuyến tiền liệt

1.6.5. Mô bệnh học UTTTL

1.6.6. Chẩn đoán xác định

1.6.7. Phân loại tổn thương ung thư của tuyến tiền liệt theo WHO 2016

1.6.8. Phân độ mô bệnh học (G)

1.6.9. Chẩn đoán giai đoạn TNM và xếp nhóm nguy cơ

1.7. ĐIỀU TRỊ NỘI TIẾT UTTTL

1.7.1. Khái niệm và cơ sở của điều trị nội tiết trong UTTTL

1.7.2. Chỉ định điều trị nội tiết

1.7.3. Các phương pháp điều trị nội tiết

1.8. MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ UTTTL

1.9. MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ ĐIỀU TRỊ NỘI TIẾT BỆNH UTTTL

1.9.1. Các nghiên cứu về điều trị nội tiết bệnh UTTLT trên thế giới

1.9.2. Các nghiên cứu về điều trị nội tiết bệnh UTTLT tại Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

2.2. Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân

2.3. Tiêu chuẩn loại trừ

2.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.4.1. Thiết kế nghiên cứu

2.4.2. Cỡ mẫu nghiên cứu

2.4.3. Phương pháp thu thập thông tin, số liệu

2.5. CÁC THÔNG SỐ NGHIÊN CỨU

2.5.1. Các biến số về lâm sàng

2.5.2. Các biến số về xét nghiệm

2.5.3. Các biến số về chẩn đoán hình ảnh

2.5.4. Biến số về mô bệnh học

2.6. XỬ LÝ SỐ LIỆU

2.7. ĐẠO ĐỨC NGHIÊN CỨU

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng

3.1.1. Đặc điểm lâm sàng

3.1.2. Đặc điểm cận lâm sàng

3.2. Kết quả điều trị

3.2.1. Phương pháp điều trị

3.2.2. Đáp ứng lâm sàng

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng

4.1.1. Đặc điểm lâm sàng

4.1.2. Đặc điểm cận lâm sàng

4.2. Nhận xét một số kết quả điều trị

4.3. Đáp ứng lâm sàng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Khóa luận tốt nghiệp

Khóa luận tốt nghiệp của Đỗ Thị Thu Hằng tập trung vào đánh giá kết quả điều trị nội tiết cho bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt tại Bệnh viện Bạch Mai. Nghiên cứu này nhằm mục tiêu mô tả đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân, đồng thời nhận xét hiệu quả của điều trị nội tiết. Khóa luận được thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS. Phạm Cẩm Phương và ThS. Lê Viết Nam, đóng góp vào lĩnh vực y họcđiều trị ung thư.

1.1. Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu nhằm đánh giá kết quả điều trị nội tiết cho bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt tại Bệnh viện Bạch Mai. Mục tiêu cụ thể bao gồm mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và nhận xét hiệu quả của phác đồ điều trị nội tiết. Khóa luận này cung cấp dữ liệu quan trọng cho việc cải thiện chẩn đoán ung thưđiều trị nội tiết tố trong tương lai.

II. Đánh giá kết quả điều trị

Phần này tập trung vào đánh giá kết quả điều trị nội tiết cho bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp điều trị nội tiết như liệu pháp ức chế androgen (ADT) và đánh giá hiệu quả thông qua các chỉ số như PSA. Kết quả cho thấy điều trị nội tiết mang lại hiệu quả tích cực trong việc kiểm soát bệnh, đặc biệt ở giai đoạn muộn.

2.1. Phương pháp điều trị

Các phương pháp điều trị nội tiết được áp dụng bao gồm liệu pháp ức chế androgen (ADT) và sử dụng hormone LHRH. Nghiên cứu đánh giá hiệu quả của các phương pháp này thông qua việc theo dõi nồng độ PSA và các triệu chứng lâm sàng. Kết quả điều trị cho thấy sự cải thiện đáng kể ở nhóm bệnh nhân được điều trị.

2.2. Kết quả điều trị

Kết quả điều trị được đánh giá dựa trên sự thay đổi nồng độ PSA và các triệu chứng lâm sàng. Nghiên cứu chỉ ra rằng điều trị nội tiết giúp giảm đáng kể nồng độ PSA và cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân. Đây là cơ sở để tiếp tục nghiên cứu và cải tiến phác đồ điều trị trong tương lai.

III. Bệnh ung thư tuyến tiền liệt

Ung thư tuyến tiền liệt là một trong những loại ung thư phổ biến nhất ở nam giới. Nghiên cứu này tập trung vào các đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh, cũng như các yếu tố nguy cơ như tuổi tác, tiền sử gia đình và chế độ ăn uống. Chẩn đoán ung thư dựa trên xét nghiệm PSA và sinh thiết tuyến tiền liệt, trong khi điều trị nội tiết là phương pháp chính ở giai đoạn muộn.

3.1. Đặc điểm lâm sàng

Triệu chứng lâm sàng của ung thư tuyến tiền liệt thường âm thầm, chỉ xuất hiện khi bệnh đã tiến triển. Các triệu chứng phổ biến bao gồm rối loạn tiểu tiện, đau xương và suy thận. Chẩn đoán ung thư thường dựa trên thăm khám trực tràng (DRE) và xét nghiệm PSA.

3.2. Đặc điểm cận lâm sàng

Các xét nghiệm cận lâm sàng như PSA, siêu âm qua trực tràng và chụp cộng hưởng từ (CHT) đóng vai trò quan trọng trong chẩn đoán ung thư. Nồng độ PSA cao là dấu hiệu cảnh báo, trong khi sinh thiết tuyến tiền liệt là tiêu chuẩn vàng để xác định bệnh.

IV. Bệnh viện Bạch Mai

Bệnh viện Bạch Mai là địa điểm chính thực hiện nghiên cứu này. Với cơ sở vật chất hiện đại và đội ngũ chuyên gia giàu kinh nghiệm, bệnh viện đã áp dụng các phương pháp điều trị nội tiết tiên tiến cho bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt. Nghiên cứu này góp phần nâng cao chất lượng điều trị ung thư tại Việt Nam.

4.1. Cơ sở nghiên cứu

Bệnh viện Bạch Mai là một trong những bệnh viện hàng đầu tại Việt Nam, có đầy đủ trang thiết bị và nhân lực để thực hiện các nghiên cứu chuyên sâu về ung thư tuyến tiền liệt. Nghiên cứu này được thực hiện tại Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu của bệnh viện.

4.2. Đóng góp của nghiên cứu

Nghiên cứu này đã cung cấp dữ liệu quan trọng về hiệu quả của điều trị nội tiết tại Bệnh viện Bạch Mai, góp phần cải thiện phác đồ điều trị và nâng cao chất lượng chăm sóc bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt.

12/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. DỊCH TỄ HỌC 1. Tỉ lệ và xu hướng mắc bệnh Ung thư tuyến tiền liệt (UTTTL) là một trong những loại ung thư có tỉ lệ mắc cao nhất trên thế giới. Theo ước tính của GLOBOCAN 2020, trên thế giới có 1.259 trường hợp mắc mới, chiếm khoảng 7,3% tổng số trường hợp mắc ung thư ở cả nam và nữ[12].

Với tỉ lệ này, UTTTL đứng thứ 4 trong số các ung thư phổ biến nhất, sau ung thư phổi, vú, đại-trực tràng[12]. Ở nam giới, UTTTL chiếm khoảng 14,1% tổng số ca ung thư, và đứng thứ 2 sau ung thư phổi. Tỉ lệ mắc bệnh thay đổi từ 6,3 đến 83,4/100.000 nam giới ở khắp các khu vực, trong đó tỉ lệ cao nhất được tìm thấy ở Bắc và Tây Âu, Úc/ New Zealand, Bắc Mỹ, Nam Phi. Tỉ lệ thấp nhất ở khu vực châu Á và Bắc Phi.

Sự khác biệt về tỉ lệ mắc UTTTL giữa các khu vực trên thế giới và giữa các chủng tộc có thể do nhiều yếu tố. Để giải thích cho sự khác biệt này, ngoài việc sàng lọc, các yếu tố như chủng tộc, thói quen ăn uống và lối sống cũng có ý nghĩa quan trọng. Chế độ ăn ở các nước phương tây (thường nhiều chất béo và thịt đỏ) được cho là có thể làm tăng nguy cơ mắc UTTTL[16]. Một nghiên cứu khác cũng cho thấy rằng tỉ lệ mắc UTTTL ở người Việt Nam di cư sang Mỹ cao hơn nhiều lần so với người Việt Nam sống tại Hà Nội[27].

Sự khác biệt tương tự cũng được ghi nhận giữa người Nhật sống ở Mỹ và người Nhật sống tại nước Nhật[30,35]. Tại Việt Nam, tỉ lệ mắc UTTTL ngày càng tăng, ước tính của GLOBOCAN 2012, UTTTL đứng hàng 11 về tỉ suất mắc mới ung thư ở nam giới. Tuy nhiên theo số liệu của GLOBOCAN 2020, ung thư này đứng hàng thứ 7[12]. Tỉ lệ và xu hướng tử vong Nhờ có nhiều tiến bộ trong điều trị và chăm sóc y tế, theo GLOBOCAN 2020, UTTTL chiếm 3,8% tổng số tử vong do ưng thư, con số này năm 2018 là 6,7%[12].

Tỉ suất tử vong của UTTTL không tương ứng với tỉ suất mới mắc ở các khu vực, dao động trong khoảng từ 3,1 đến 27,9/100. Tỉ suất tử vong cao nhất gặp ở Caribe và châu Phi, thấp nhất ở khu vực châu Á. Khác với tỉ suất mắc, tỉ suất tử vong do UTTTL không khác biệt nhiều giữa các quốc gia và khu vực trên thế giới, tỉ suất này là 5,9/100.000 ở các nước có thu nhập trung bình/thấp. Ở các nước có thu nhập cao, tỉ suất này là 8,1/100.Sự khác biệt này có thể liên quan đến các yếu tố di truyền hoặc do chất lượng chăm sóc và điều trị ở các nước phát triển tốt hơn các nước đang 3 phát triển[14].

Nhìn chung, tỉ lệ tử vong do UTTTL trên thế giới có xu hướng giảm đáng kể trong hơn hai thập kỷ qua, nhất là ở các nước phát triển. Yếu tố nguy cơ Các yếu tố nguy cơ chính được biết đến là tuổi, dân tộc, béo phì và tiền sử gia đình [19]. Tuổi là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất của UTTTL. Rất ít nam giới dưới 40 tuổi được chẩn đoán mắc UTTTL, từ 50 tuổi trở lên, nguy cơ mắc loại ung thư này tăng theo cấp số mũ.

Tỉ lệ này ở nhóm tuổi 45-54 là 10,6/100.000, nhưng ở nhóm tuổi 55-64 là 72,9/100. Khi tuổi cao hơn, nồng độ PSA trong huyết thanh cũng cao hơn, và bệnh nhân cũng được chẩn đoán bệnh ở giai đoạn muộn hơn. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG Triệu chứng lâm sàng của bệnh UTTTL thường âm thầm, không có biểu hiện, khi triệu chứng xuất hiện, khi đó bệnh đã ở giai đoạn muộn. Thường bệnh nhân đi khám vì triệu chứng rối loạn tiểu tiện, triệu chứng u lan tràn hoặc đã có di căn[1].

Triệu chứng cơ năng Rất nhiều trường hợp UTTTL ở thể ẩn, không có triệu chứng lâm sàng. Người bệnh được phát hiện bệnh tình cờ, hoặc giải phẫu tử thi sau khi tử vong do những nguyên nhân khác. Có 2 lý do làm cho người bệnh phải đi khám bệnh là rối loạn tiểu tiện và các dấu hiệu về u lan toả hoặc đã có di căn. Các triệu chứng tiết niệu thường gặp là: đái khó, tia đái nhỏ; đái dắt, đi đái nhiều lần; đái không tự chủ; bí đái cấp.

Ở giai đoạn muộn, khối u thường nhiều ổ, lan toả xâm lấn bao xơ và di căn, có thể gây ra những rối loạn toàn thân trầm trọng, thể trạng người bệnh suy sụp, kết thúc cuối cùng là tử vong. Các dấu hiệu tiến triển lan tràn thường gặp là: đau xương, đau tầng sinh môn, phù nề chi dưới, xuất tinh ra máu. Các dấu hiệu toàn thân khác: Người bệnh có thể đến viện trong tình trạng suy thận, với các biểu hiện gầy sút, phù nề, xanh nhợt, thiếu máu. Các di căn khác ở phổi, gan ít khi là dấu hiệu đầu tiên, di căn não cũng hiếm gặp.

Triệu chứng thực thể Thăm khám TTL qua trực tràng (DRE): đây là cách thức đơn giản, rẻ tiền và hữu hiệu phát hiện UTTTL. Hầu hết UTTTL xuất hiện ở vùng ngoại vi của TTL và có thể phát hiện qua thăm trực tràng. Qua DRE có thể đánh giá tuyến tiền liệt về mật 4 độ, phát hiện khối u tuyến tiền liệt, kích thước, mức độ xâm lấn xung quanh, đặc điểm của rãnh giữa; tình trạng của thành trực tràng, sự hẹp lòng trực tràng. Bằng việc phối hợp với nồng độ PSA, thăm khám TTL qua trực tràng đã góp phần chẩn đoán đa số các UTTTL.

Khám toàn thân phát hiện di căn hạch, một số ít trường hợp phát hiện di căn xa. ĐẶC ĐIỂM CẬN LÂM SÀNG 1. PSA Hiện nay nồng độ PSA để chẩn đoán UTTTL vẫn đang còn được bàn cãi. Tuy nhiên người ta thấy rằng nồng độ PSA càng cao, thì khả năng tồn tại UTTTL càng lớn.1 dưới đây cho tỉ lệ UTTTL liên quan đến PSA huyết thanh ở 2950 nam giới có giá trị PSA < 4 ng/ml[37].

Nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt liên quan đến giá trị PSA thấp Nguy cơ Gleason ≥ 7 Nồng độ PSA Nguy cơ UTTTL UTTTL 0-0,5 6,6% 0,8% 0,6-1 10,1% 1,0% 1,1-2 17,0% 2,0% 2,1-3 23,9% 4,6% 3,1-4 26,9% 6,7% Bảng trên thể hiện rõ ràng sự xuất hiện của UTTTL ngay cả ở mức PSA rất thấp. Một số nghiên cứu ở Việt nam cũng cho rằng ngưỡng bình thường PSA của nam giới là ≤ 4 ng/ml[2,3,5,8,9]. Tỉ lệ PSA tự do/toàn phần (f/t–PSA) Tỉ lệ PSA tự do/ toàn phần là thông số được sử dụng rộng rãi trong lâm sàng để phân biệt giữa tăng sinh lành tính và UTTTL. Tỉ lệ này được sử dụng trong trường hợp nồng độ PSA từ 4 đến 10 ng/mL và thăm khám trực tràng không có dấu hiệu nghi ngờ UTTTL.

Trên lâm sàng, phần lớn các tác giả nghi ngờ UTTTL khi tỉ lệ f/t–PSA < 20%[2,5,17]. Nhằm mục đích tăng độ nhạy và độ chuyên biệt của xét nghiệm PSA, các xét nghiệm chuyên sâu như đo vận tốc PSA, tỷ trọng PSA, PSA theo tuổi. Các xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh - Siêu âm ổ bụng: có giá trị định hướng chẩn đoán, đánh giá di căn trong ổ bụng - Siêu âm qua trực tràng: Không phải lúc nào cũng có thể thấy được hình ảnh 5 kinh điển của một vùng giảm âm ở ngoại vi của tuyến tiền liệt qua siêu âm. Siêu âm qua trực tràng không thể phát hiện vùng UTTTL với độ tin cậy đầy đủ.

Do đó, sinh thiết các vùng nghi ngờ không thể sử dụng như là một phương pháp thường quy để chẩn đoán. Tuy nhiên, có thể có ích khi sinh thiết thêm các khu vực nghi ngờ. - Chụp cộng hưởng từ (CHT) tiểu khung: có giá trị góp phần vào chẩn đoán, định hướng cho việc sinh thiết TTL. Ngoài ra còn giúp cho chẩn đoán mức độ xâm lấn của khối u vào tổ chức xung quanh và hạch vùng.

Ổ tổn thương UTTTL vùng ngoại vi bên phải, giảm tín hiệu trên T2W, giảm tín hiệu trên CHT khuếch tán, tăng ngấm thuốc sau tiêm. - Chụp xạ hình xương và chụp PET/CT: Chụp PET/CT: Với 18F-FDG ít có giá trị phát hiện u nguyên phát, nhưng giúp phát hiện chính xác di căn, tái phát, đánh giá hiệu quả các phương pháp điều trị, mô phỏng lập kế hoạch xạ trị. Có thể chụp PET/CT với 11C-Acetate cho hình ảnh u nguyên phát rõ nét hơn. Thùy trái TTL có khối kích thước 2,8x2,9cm tăng hấp thu F-18 FDG.

Chụp xạ hình xương với MDP-99mTc: Phát hiện những tổn thương di căn vào xương: xương cột sống, xương sườn, xương cánh chậu, xương sọ… 6 Chụp cắt lớp vi tính: Chụp CLVT vừa cho phép chẩn đoán mức độ xâm lấn tại chỗ của khối u (T), đồng thời cho phép chẩn đoán di căn, đặc biệt là di căn hạch chậu. Giá trị chẩn đoán của chụp cắt lớp vi tính ngày càng được nâng cao nhờ vào các kỹ thuật chụp mới. Sinh thiết tuyến tiền liệt Chỉ định sinh thiết tuyến tiền liệt dựa trên cơ sở nồng độ PSA và/hoặc có nghi ngờ khi thăm khám trực tràng. Cũng cần phải xem xét đến các yếu tố tuổi, bệnh kèm theo và hậu quả điều trị nếu chẩn đoán quá mức.

Người bệnh chỉ có nồng độ PSA cao lần xét nghiệm đầu tiên không nên chỉ định sinh thiết ngay lập tức. Cần xét nghiệm lại PSA sau một tháng trong các điều kiện tiêu chuẩn (không xuất tinh và không làm các thủ thuật như đặt thông niệu đạo bàng quang, soi bàng quang hoặc cắt đốt nội soi qua niệu đạo, không thăm trực tràng trước đó và không có nhiễm trùng đường tiết niệu) ở cùng một nơi xét nghiệm và cùng phương pháp đã tiến hành lần trước. Sinh thiết qua trực tràng là phương pháp được đề nghị trong hầu hết các trường hợp nghi ngờ UTTTL. Số mẫu sinh thiết lý tưởng là 10-12 mẫu[1].

Sinh thiết tuyến tiền liệt có thể có cả âm tính giả và dương tính giả. Đối với âm tính giả, sinh thiết tuyến tiền liệt bỏ sót khoảng 20% trường hợp UTTTL nên chỉ định sinh thiết lặp lại khi: (1) PSA tăng và/hoặc cao liên tục, (2) Thăm khám tuyến tiền liệt có nghi ngờ; (3) tăng sinh dạng nang nhỏ không điển hình và (4) tân sinh trong biểu mô tuyến lan tỏa. Kỹ thuật sinh thiết tuyến tiền liệt dưới hướng dẫn của siêu âm qua đường trực tràng[39] 7 Hình 1. Sơ đồ 12 vị trí lấy mẫu sinh thiết tuyến tiền liệt.

Mô bệnh học UTTTL Phân độ mô học theo hệ thống thang điểm Gleason hiện nay được sử dụng rộng rãi trong chẩn đoán UTTTL nhằm phục vụ cho điều trị và theo dõi, tiên lượng. Điểm Gleason là tổng của độ mô học Gleason chiếm ưu thế nhất và nhì. Nếu chỉ có một độ mô học, thì điểm được tính bằng cách nhân đôi độ mô học đó.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Đồ án tốt nghiệp điện dân dụng và công nghiệp mô hình tự động điều khiển pin mặt trời" cung cấp cái nhìn chi tiết về việc ứng dụng công nghệ tự động trong hệ thống pin mặt trời, một giải pháp tiên tiến và thân thiện với môi trường. Đồ án này không chỉ giúp sinh viên nắm vững kiến thức chuyên ngành mà còn mở ra cơ hội nghiên cứu và phát triển các hệ thống năng lượng tái tạo. Để hiểu sâu hơn về các ứng dụng thực tế trong lĩnh vực điện dân dụng và công nghiệp, bạn có thể tham khảo thêm Khoá luận tốt nghiệp nhà làm việc công ty thép Việt Đức, nơi cung cấp góc nhìn thực tiễn về quy trình thiết kế và vận hành trong ngành công nghiệp. Cả hai tài liệu đều là nguồn tham khảo quý giá cho những ai đam mê kỹ thuật và muốn mở rộng kiến thức chuyên môn.