ĐẶT VẤN ĐỀ Ngày nay, tài nguyên thiên nhiên của thế giới cũng như Việt Nam đã và đang bị thu hẹp về diện tích, giảm sút về chất lượng. Tình trạng môi trường ngày càng bị suy thoái, ô nhiễm nghiêm trọng dẫn đến thiên tai, hạn hán, lũ lụt, dịch bệch xảy ra ngày một tăng cao. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do áp lực về dân số, kéo theo nhiều hoạt động sản xuất kinh tế diễn ra mạnh mẽ, đồng thời phát triển các ngành công nghiệp, sự đô thị hóa với tốc độ nhanh chóng. Chính vì vậy, việc quy hoạch, sử dụng hợp lý và bền vững các nguồn tài nguyên cũng như xây dựng nền nông lâm nghiệp bền vững không còn là trách nhiệm riêng của một quốc gia nào mà là công việc chung của toàn nhân loại.
Những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chính sách ưu tiên cho phát triển nông thôn tại các khu vực vùng sâu vùng xa, vùng đồng bằng như chương trình 135, chính sách hỗ trợ người dân về giống, phân bón, dồn điền đổi thửa, chương trình phát triển bền vững, cho người dân vay vốn phát triển nông lâm nghiệp với lãi suất thấp… Sau thời gian những chính sách ấy đi vào đời sống, đã cho thấy có sự chuyển mình mạnh mẽ, bước đầu đạt được những kết quả khả quan. Tuy nhiên, những kết quả đó chưa xứng đáng với tiềm năng và lợi thế của nước ta, nông nghiệp đã phát triển nhưng vẫn còn manh mún thiếu quy hoạch nên chưa phát huy được tiềm năng của một nước nông nghiệp, lâm nghiệp. Dù bước đầu đáp ứng được cuộc sống của người dân, nhưng lợi nhuận đem lại từ nghề rừng chưa cao, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đổi mới cách thức sản xuất, chuyển giao khoa học kĩ thuật còn hạn chế, cơ sở hạ tầng thấp kém, tỷ lệ hộ nghèo cao ảnh hưởng đến môi trường và phát sinh nhiều bức xúc. Yên Sở là xã thuộc huyện Hoài Đức – T.P Hà Nội, là một xã nằm bên sông Đáy, thuận lợi cho việc sản xuất nông lâm nghiệp.
Là huyện có thế mạnh phát triển công nghiệp – đô thị, dịch vụ nhưng huyện vẫn còn trên 80% dân số sống dựa vào nông nghiệp. Diện tích đất nông lâm nghiệp khoảng 314,05 ha, 1 xã Yên Sở được chọn xây dựng mô hình nông thôn mới của huyện, không chỉ phát triển nông lâm nghiệp truyền thống, thuần túy mà còn hướng tới công nghệ cao; tiến hành tổ chức lại sản xuất, gắn nền nông lâm nghiệp với phát triển công nghiệp, dịch vụ và xây dựng đô thị. Nền sản xuất nông lâm nghiệp của xã đang được chú trọng đầu tư phát triển, năng suất không ngừng tăng lên, nâng cao đời sống của bà con trong toàn xã. Tuy nhiên, nền sản xuất nông lâm nghiệp của xã còn tồn tại nhiều khuyết điểm: Khai thác sử dụng đất vẫn chưa hợp lý, trình độ khoa học còn yếu kém, tư liệu sản xuất đơn giản, kỹ thuật canh tác truyền thống, một số vùng vẫn còn độc canh cây lúa… Vậy vấn đề đặt ra là cần khắc phục những khó khăn đó, để phát huy được lợi thế nhằm đưa nền kinh tế - xã hội của xã phát triển một cách bền vững, ổn định, lâu dài và góp phần bảo vệ môi trường sinh thái.
Xuất phát từ những thực trạng trên tôi tiến hành thực hiện khóa luận tốt nghiệp: “Quy hoạch phát triển sản xuất Nông Lâm nghiệp xã Yên Sở - huyện Hoài Đức – T.P Hà Nội giai đoạn 2015 - 2025”. 2 PHẦN 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Sản xuất nông lâm nghiệp có vai trò và tầm quan trọng rất lớn đối với đời sống của con người. Nhằm phát huy tối đa hiệu quả sản xuất nông lâm nghiệp đã có rất nhiều nghiên cứu được thực hiện trên khắp các Châu lục, tại nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, đặc biệt là những nghiên cứu về quy hoạch phát triển sản xuất nông lâm nghiệp, quy hoạch sử dụng đất. Những nghiên cứu này mặc dù đã được thực hiện trên nhiều khía cạnh, đối tượng khác nhau song đến thời điểm này thì tất cả các công trình nghiên cứu đều hướng tới mục đích chính là sử dụng đất đai, phát triển nông lâm nghiệp một cách hiệu quả và bền vững.
Trên thế giới Trên thế giới quy hoạch phát triển nông thôn đã được đề cập và nhắc tới từ rất sớm. Mô hình sử dụng đất đầu tiên là du canh, đó là những hệ thống nông nghiệp trong đó đất đã được phát quang để canh tác trong một thời gian ngắn hơn thời gian bỏ hóa (Conklin 1957). Mô hình SALT1 (Sloping Agriculture Land Technology) với cơ cấu 25% cây lâm nghiệp + 25% cây lưu niên + 50% cây nông nghiệp hàng năm. Mô hình SALT2 (Sim pleagro – Livestoch Technology) với cơ cấu 40% nông nghiệp + 20% lâm nghiệp + 20% công nghiệp + 20% làm nhà ở và chuồng trại.
Mô hình SALT3 (Sustainable agor – forest land Technology) với cơ cấu 40% nông nghiệp + 60% lâm nghiệp. Mô hình SALT4 (Small Agro – Fruit Likelihood Technology) với cơ cấu 60% lâm nghiệp + 15% nông nghiệp + 25% cây ăn quả. Các mô hình canh tác nông nghiệp bền vững trên đất dốc có sự phối hợp hài hòa giữa cây nông nghiệp, lâm nghiệp và chăn nuôi gia súc đều dựa trên cơ sở có sự nghiên cứu phân bố các loại đất đai một cách hợp lý, khoa học nhằm tạo ra hiệu quả kinh tế cao nhất và bền vững nhất về mặt môi trường sinh thái. 2 Quy hoạch nông lâm nghiệp được xác định là một chuyên ngành bắt đầu bằng việc quy hoạch vùng từ thế kỷ XVII theo Orschowy vào thời gian này quy hoạch quản lý rừng, nông nghiệp và lâm sinh ở Châu Âu phát triển ở mức cao trên cơ sở quy hoạch sử dụng đất.
Quy hoạch vùng nông nghiệp là một biện pháp tổng hợp của Nhà nước về phân bố và phát triển lực lượng sản xuất trên lãnh thổ các vùng hành chính, nông nghiệp, nhằm đáp ứng các nhu cầu về phát triển tất cả các ngành kinh tế trong vùng. Quy hoạch vùng nông nghiệp là giai đoạn kết thúc của kế hoạch hóa tương lai của Nhà nước một cách chi tiết sự phát triển và phân bố lực lượng sản xuất theo lãnh thổ của các vùng, là biện pháp xác định các xí nghiệp chuyên môn hóa một cách hợp lý. Là biện pháp sử dụng đất đai, lợi dụng các yếu tố tự nhiên, áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật… Sự phát triển của quy hoạch lâm nghiệp gắn liền với sự phát triển kinh tế Tư bản chủ nghĩa. Do công nghiệp và giao thông vận tải phát triển, nhu cầu về gỗ ngày càng tăng.
Sản xuất gỗ đã tách khỏi nền kinh tế địa phương của chế độ phong kiến và bước vào thời đại kinh tế hàng hóa Tư bản chủ nghĩa. Thực tế sản xuất lâm nghiệp đã không còn bó hẹp trong việc sản xuất gỗ đơn thuần mà cần phải có ngay những lý luận và biện pháp nhằm đảm bảo thu hoạch lợi nhuận lâu dài cho các chủ rừng. Chính hệ thống hoàn chỉnh về lý luận quy hoạch lâm nghiệp đã được hình thành trong hoàn cảnh như vậy. Đến đầu thế kỷ XVIII, phạm vi quy hoạch lâm nghiệp mới chỉ dừng lại ở giải quyết việc “Khoanh khu chặt luân chuyển”, có ý nghĩa là đem trữ lượng hoặc diện tích tài nguyên rừng chia đều cho từng năm của chu kì khai thác và tiến hành khoanh khu chặt luân chuyển theo trữ lượng hoặc theo diện tích.
Phương pháp này phục vụ cho phương thức kinh doanh rừng chồi, chu kì khai thác ngắn. Sau cách mạng công nghiệp, vào thế kỷ XIX, phương thức kinh doanh rừng chồi được thay thế bằng phương thức kinh doanh rừng hạt với chu kì khai thác dài, phương thức kinh doanh “Khoanh khu chặt luân chuyển” nhường chỗ cho phương thức “chia đều” của Harting. Ông đã chia chu kì khai thác thành 3 nhiều thời kì lợi dụng và trên cơ sở đó khống chế lượng chặt hàng năm. Đến năm 1816, xuất hiện phương pháp khai thác “phân kì lợi dụng” của H.cotta và cũng lấy đó để khống chế lượng chặt hàng năm.
Sau đó, phương pháp “bình quân thu hoạch” ra đời. Quan điểm phương pháp này là giữ đều mức thu hoạch trong kì khai thác hiện tại, đồng thời vẫn đảm bảo thu hoạch được liên tục trong chu kì sau. Đến cuối thế kỷ XIX xuất hiện phương pháp “lâm phần kinh tế” của Judeich, phương pháp này khác với phương pháp “bình quân thu hoạch” về căn bản. Judeich cho rằng những lâm phần nào đảm bảo thu hoạch được nhiều tiền nhất sẽ được đưa vào diện khai thác.
Hai phương pháp “lâm phần kinh tế” và “bình quân thu hoạch” chính là tiền đề của hai phương pháp tổ chức rừng khác nhau và tổ chức kinh doanh. Theo FAO đã định nghĩa về đất đai như sau: “Đất đai là một tổng thể vật chất bao gồm cả sự kết hợp giữa địa hình và không gian tự nhiên của tổng thể vật chất đó”. Về mặt bản chất cần được xác định dựa trên quan điểm nhận thức, đất đai là đối tượng của các mối quan hệ sản xuất trong tất cả lĩnh vực. Việc sử dụng nguồn đất đai được coi như là việc sử dụng tư liệu sản xuất đặc biệt, nó gắn với sự phát triển kinh tế xã hội.
Quy hoạch là sự phân bố, bố trí, sắp xếp, tổ chức một cách hợp lý có khoa học các mục tiêu sử dụng đất và đề xuất sử dụng đất theo một trật tự nhất định trong một lãnh thổ, khu vực hoặc một địa phương để đạt được hiệu quả cao nhất về mặt sử dụng đất. Đã có rất nhiều tài liệu nghiên cứu định nghĩa về quy hoạch sử dụng đất khác nhau. Theo Dent (1988 - 1993): “Quy hoạch sử dụng đất như là phương tiện giúp cho lãnh đạo quyết định sử dụng đất đai như thế nào thông qua việc đánh giá có hệ thống cho việc chọn mẫu hình trong sử dụng đất đai, mà trong sự lựa chọn này sẽ đáp ứng với những mục tiêu riêng biệt, và từ đó hình thành nên chính sách và chương trình cho sử dụng đất đai”. Theo Mohammed (1999): “Những từ vựng kết hợp với những định nghĩa về quy hoạch sử dụng đất đai là hầu hết đều đồng ý chú trọng và giải đoán những hoạt động như là một tiến trình xây dựng quyết định cấp cao.
Do đó quy 4 hoạch sử dụng đất, trong một thời gian dài với quyết định từ trên xuống nên cho kết quả là nhà quy hoạch bảo người dân phải làm những gì”.