Mở đầu tác phẩm Truyện Kiều nổi tiếng thi hào Nguyễn Du đã viết: Trăm năm trong coi người ta Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau Trải qua một cuộc bể dâu Những điều trông thấy mà đau đớn lòng (Nguyễn Du - Truyện Kiều ) Ngày nay với cách lý giải khoa học biện chứng , theo cách nhìn sự vật của chủ nghĩa Mác - Lê Nin , chúng ta không chấp nhận tư tưởng " Tài mệnh tương đố" trong những câu thơ trên của Nguyễn Du. Nhưng hỡi ôi ! Trong cuộc dâu bể của trời đất biết bao số phận , bao cuộc đời đã làm cho cõi lòng của chúng ta đau đớn , nát tan. Tạo hóa vốn ghen ghét chăng , mà một nhà văn Vũ Trọng Phụng tài ba đã đi vào cõi chết khi ông mới 27 tuổi. Ông ra đi trong lúc tài năng của ông đang độ chín.
Ông ra đi để lại muôn vàn tình thương tiếc trong lòng gia đình và bè bạn , cũng như những người hâm mộ tác phẩm của ông. Lại thêm một thi sĩ Bích Khê , thi sĩ đây năng lực sáng tạo cũng từ giã thế giới của chúng ta lúc ông vừa bước sang tuổi 30. 18 Còn Hàn Mặc Tử - Ông từ biệt cuộc đời lúc ông vừa 28 tuổi. Rồi còn bao nhiêu những đấng tài hoa khác mà cuộc đời của họ thật ngắn ngủi , rủi ro.
Sự thật quá khắc nghiệt và phũ phàng. Đau khổ hằn trên đôi mắt của thi nhân. Văn chương là sự thể hiện nỗi đau. Nhà văn Xô Viết V.Raxpuchin đã viết : " Nếu tôi viết ấy là vì tôi cảm thấy đau ở đâu đấy trong người, tôi cảm thấy sự thiếu thốn nào đó.
Phải tin rằng văn học cần phải cố gắng phô diễn cái gì đòi được viết ra , đặt biệt là các hiện tượng mà chỉ có văn học mới có thể khai thác và nói rõ" (1).1) F 4 Trong giai đoạn lịch sử của những năm 1930- 1945 người Việt Nam đã phải hứng chịu biết bao đau khổ lầm than. Thơ văn thời kỳ này đã có rất nhiều tác phẩm nói về bi kịch cuộc đời của người dân Việt. Trong thời kỳ đó phong trào thơ mới đã xuất hiện cùng với sự xuất hiện của cái " tôi "cá nhân. Trong sáng tác của phong trào thơ mới chúng ta tìm thấy ước mơ , mộng tưởng và cả những nổi đau đời triền miên của các thi sĩ.
Buồn - đau - cô đơn là nét chung của các nhà thơ trong phòng trào thơ mới. Nhà thơ Huy Cận với một không gian cao và rộng , choáng ngợp của dòng Tràng giang đã khiếu cho con người như bơ vơ như lạc lỏng: Nắng xuống, trời lên sâu chót vót Sông dài trời rộng bến cô liêu ( Tràng giang - Huy Cận ) Ở một bài thơ khác nỗi buồn lại được khắc họa: Đêm mưa làm nhớ không gian Lòng riêng thêm lạnh nỗi hàn bao la ( Buôn đêm mưa - Huy Cận ) Nỗi buồn của Huy Cận là nỗi buồn chung của một thế hệ các nhà thơ lúc bấy giờ. Đó là nỗi buồn của những con người chưa tìm thấy cho mình một hướng đi đúng nhất giữa cuộc đời mênh mông rộng lớn trăm phương , nghìn ngả. Nhà Thơ Chế Lan Viên với tập thơ Điêu tàn sáng tác trước Cánh Mạng tháng 8 năm 1945 cũng cùng chung tâm trạng với Huy Cận.
Nỗi buồn thấm lên cuộc đời và thấm lên trang thơ của nhà thơ. Cả thời gian và không gian đều chìm đắm trong nổi buồn đau. Xuân đang đến , chẳng hề chi , nhà thơ không ý mong chờ: 1) Lê Ngọc Trà - Lý luận và văn học NXB ừẻ TP. Hồ Chí Minh 1990 .7 19 - Tôi có chờ đâu có đợi đâu Đem chi xuân đến gợi thêm sầu - Với tôi tất cả như vô nghĩa Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau ( Xuân - Chế Lan Viên ) Đất trời mông lung không bến đậu.
Nhà thơ lại nặng lòng thương nhớ Tháp Chàm xưa Sự diệt vong của dân tộc Chàm là nỗi đau , là sự dằn vặt không dứt trong tâm tưởng của nhà thơ Chế Lan Viên. Với tập thơ Điêu tàn Chế Lan Viên đã khóc , đã gào rú , đã kêu than và thương tiếc cho dân tộc ấy: Ta vẫn thấy hồn ta buồn ủ rũ và cõi lòng dày đặc bóng đêm mờ. Vì bạn ơi, trong bao tia nắng rỡ tia nào đâu rơi tự nước Chàm ta. ( Nắng mai - Chế Lan Viên ) Ngay cả đến Xuân Diệu một nhà thơ luôn yêu đời , yêu người , nhà thơ luôn tươi trẻ , nồng nàn mà trong thơ của ông chúng ta cũng bắt gặp những nỗi buồn: Hôm nay trời nhẹ lên cao , tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn.
Êm êm chiều ngẩn ngơ chiều , Lòng không sao cả, hiu hiu khẽ buồn. ( Chiều - Xuân Diệu ) Nồi buồn ấy tưởng như vu vơ , vô duyên cớ nhưng lại rất có duyên , rất thực. Bởi rằng trong cuộc đời của mỗi chúng ta chắc rằng ai cũng có những phút giây như Xuân Diệu " Không biết vì sao tôi buồn ". Cũng có những khi Xuân Diệu lại miêu tả trong thơ mình những nỗi buồn có nguyên nhân.
Đó là nỗi buồn của sự cách biệt, sự chia tay nỗi buồn của sự cô đơn , xa vắng. Đó là tâm trạng bi thảm của người kỹ nữ : 20 Gió theo trăng từ biển thổi qua non Buồn theo gió lan xa từng thoáng rợn (Xuân Diệu - Lời kỹ nữ ) Nhìn chung không ít thì nhiều , các nhà thơ trong phong trào thơ mới đều có nói đến nỗi buồn. Nhưng có lẽ người nói nhiều đến nỗi buồn nhất là Hàn Mặc Tử. Trong thơ Hàn Mặc Tử không chỉ là nỗi buồn mà cao hơn nữa đó là nỗi đau : Nỗi đau của thể xác và tinh thần.
Nỗi đau thân xác : Còn ai đau khổ hơn Hàn Mặc Tử ? Một chàng trai đang sức xuân phơi phới mà mắc phải một chứng bệnh nan y. Bệnh phong thời bấy giờ rất nguy hiểm , phải sống cách ly với mọi người. Trong quan niệm của một số người : Người mắc bệnh phong như người có nhiều tội lỗi. Nỗi đau ấy đối với một người bình thường đã quá sức chịu đựng.
Huống chi đối với Hàn Mặc Tử , ông lại là một thi sĩ. Người nghệ sĩ thường sống sâu hơn với cuộc đời , nên nỗi đau ở đây lại càng nhân lên gấp trăm ngàn lần. Thật là khắc nghiệt, khi một người đang sống mà biết rằng cái chết đang đến với mình từng ngày , từng giờ. Không bi thương làm sao , khi sức đang mạnh , trí đang say mà lại phải ngồi chờ cái chết.
Hơn ai hết Hàn Mặc Tử đã ý thức được bi kịch của đời mình vì vậy chúng ta thấy trong sáng tác của ông , ông không ngại nói đến nỗi đau thân xác. Căn bệnh phong quái ác ngày đêm vẫn hành hạ thân thể của nhà thơ. Nó làm hư mái tóc , làm nát làn da , nó gặm nhấm dần từng phần xương thịt của nhà thơ. Hàn Mặc Tử đã miêu tả cảm giác về nỗi đau ấy : Thịt da tôi sượng sần và tê điếng tôi đau vì rùng rợn đến vô biên ( Hồn là ai) Cái cảm giác " Sượng sần " " Tê điếng " là cảm giác có thật của nỗi đau thân thể.
Nỗi đau đâu chỉ bao hàm trong hiện tại mà nó lan tràn đến cả tương lai , một tương lai đen tối nghĩ đến mà rùng rợn. Cuộc đời của mỗi người chúng ta rồi cũng sẽ kết thúc bằng cái chết. Nào ai có thể thoát được quy luật ấy. Đó là sự vận động biện chứng giữa sinh tồn và hủy diệt.
Nhưng đối với Hàn Mặc Tử thì cái chết đang chờ đợi ông , không những thế nó đang thúc dục ông , nên nó luôn trở thành một ám ảnh trong tâm tưởng của nhà thơ , ông đã than thở : 21 Trời hỡi bao giờ tôi chết đi Bao giờ tôi hết được yêu vì , Bao giờ mặt nhật tan thành máu Và khối lòng tôi cứng tựa si ( Những giọt lệ ) Những câu thơ ấy là tiếng kêu gào thảm thiết nhất của một con người đang quằn quại trong nỗi đau trong nỗi cô đơn rùng rợn. Nhà thơ như đang lạc vào một thế giới tách biệt với đời sống của đồng loại. Mặc dù bệnh tật dày vò thân thể , nhưng bề ngoài ông có vẻ thản nhiên lắm viết thư cho Bích Khê ông nói: " Bích Khê ơi ! Bao giờ thì chết. Tôi cũng đang chết đây nhưng vẫn thản nhiên lắm.
Tôi mong anh sống đã , sống để đọc tập thơ đau thương của tôi trước khi chết " ( Thư gửi cho Bích Khê năm 1938 ). Trong lời thăm hỏi ấy , đằng sau sự thản nhiên ta nghe sâu lắng nỗi đau đến vô cùng của những người bạc mệnh. Ngày từng ngày , sống trong nỗi đau thân xác Hàn Mặc Tử luôn nghĩ đến giờ phút hấp hồi của mình. Ông nghĩ đến cái chết trong sự cô đơn , lạnh lẽo , thảm đạm.
Và ông cầu xin , ông trách móc. Tôi trút linh hồn giữa lúc đây Gió sầu vô hạn nuối trong cây Còn em sao chẳng hay gì cả ? Xin để tang anh đến trọn ngày ( Trút linh hồn ) Ông trách móc sự thờ ơ , vô tình của người đời. Ông cầu xin nỗi niềm thương nhớ. Sống trong cô đơn chỉ có trăng làm bạn , ông đã tưởng tượng ngày ra đi của mình cũng chỉ có trăng sao là bạn , chẳng có một người đẹp nào đến khóc thương ông.
Buồn đến nao lòng : Một mai kia ở bên khe nước ngọc , Với sao sương anh nằm chết như trăng , Không tìm thấy nàng tiên mô đến khóc , Đến hôn anh và rửa vết thương tâm. ( Duyên Kỳ Ngộ ) 22 Đau đớn , cô đơn đến tuyệt vọng có lúc nhà thơ thấy mình như người điên người dại , không dám ước mơ , bỏ cả thú say mê , sợ cả không gian , sợ cả thời gian .