Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN THU, CHI TÀI CHÍNH CỦA CÔNG ĐOÀN VIỆT NAM 1. Khái quát về Công đoàn Việt Nam 1. Khái niệm, bản chất Công đoàn Việt Nam 1. Khái niệm về Công đoàn Việt Nam Khái niệm Công đoàn được định nghĩa ở Điều 1 Luật Công đoàn năm 2012 và được Hiến pháp 2013 quy định tại Điều 10 như sau: “Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện cho người lao động, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội; tham gia kiể m tra, thanh tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp về những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người lao động; tuyên truyền, vận động người lao động học tập, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”[12].
Như vậy, Công đoàn là tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, là một tổ chức quần chúng rộng lớn nhất của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Công đoàn xuất hiện khi giới công nhân biết ý thức về sức mạnh tập thể và biết chăm lo bảo vệ quyền lợi cho chính mình. Công đoàn phát triển theo sự lớn mạnh của giai cấp công nhân. Chính trong sự phát triển đó, sinh hoạt công đoàn cũng được thúc đẩy và dần chiếm được vị trí quan trọng trong hệ thống các tổ chức xã hội, cũng như trong đời sống của người lao động.
Từ chỗ chỉ được thừa nhận trong phạm vi hẹp, ngày nay công đoàn đã được thừa nhận trong phạm vi toàn xã hội. Bản chất của tổ chức Công đoàn Việt Nam Bản chất của tổ chức Công đoàn Việt Nam mang tính chất giai cấp của giai cấp công nhân và tính chất quần chúng. 8 Từ khi ra đời, Công đoàn Việt Nam đã mang đầy đủ tính chất giai cấp của giai cấp công nhân, tính chất đó được biểu hiện trong tổ chức và hoạt động công đoàn: Được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng (thực hiện mục tiêu chính trị của Đảng, nguyên tắc tổ chức và đường lối cán bộ theo đường lối của Đảng), luôn trung thành với lợi ích của giai cấp công nhân và dân tộc. Công đoàn là tổ chức đoàn thể của giai cấp công nhân; là trung tâm tập hợp, đoàn kết đội ngũ người lao động nhằm mục đích bảo vệ quyền, lợi ích của giai cấp công nhân và người lao động.
Biểu hiện tính quần chúng của công đoàn: Công đoàn kết nạp đông đảo người lao động vào công đoàn không phân biệt nghề nghiệp, thành phần, tín ngưỡng; cán bộ công đoàn trưởng thành từ phong trào công nhân và hoạt động công đoàn; nội dung hoạt động đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng của đông đảo người lao động; cơ quan lãnh đạo của công đoàn các cấp do đoàn viên bầu ra, đại diện cho tiếng nói của đoàn viên và người lao động. Hai tính chất này quan hệ gắn bó mật thiết với nhau, thể hiện bản chất của Công đoàn Việt Nam; cần được quán triệt sâu sắc trong tư tưởng chỉ đạo, xây dựng tổ chức và hoạt động công đoàn[23]. Vai trò, chức năng của tổ chức Công đoàn Việt Nam 1. Vai trò của tổ chức Công đoàn Việt Nam Vai trò của tổ chức Công đoàn Việt Nam không ngừng phát triển, mở rộng qua các thời kỳ.
Ngày nay trong giai đoạn đất nước bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vai trò của Công đoàn Việt Nam tác động trên các lĩnh vực [23]: Trong lĩnh vực chính trị: Công đoàn có vai trò to lớn trong việc góp phần xây dựng và nâng cao hiệu quả của hệ thống chính trị - xã hội xã hội chủ nghĩa. Tăng cường mối liên hệ mật thiết giữa Đảng và nhân dân, bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động, từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm thực thi pháp luật và để Nhà nước thực sự là Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Để đảm bảo sự ổn định về chính trị. 9 Trong lĩnh vực kinh tế: Công đoàn tham gia xây dựng hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế nhằm xoá bỏ quan liêu, bao cấp, củng cố nguyên tắc tập trung trên cơ sở mở rộng dân chủ.
Góp phần củng cố những thành tựu kinh tế văn hoá và khoa học kỹ thuật đã đạt được trong những năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng. Tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả hoạt động của các thành phần kinh tế trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, liên kết và hỗ trợ các thành phần kinh tế khác phát triển có lợi cho quốc kế dân sinh. Đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, từng bước đưa kinh tế tri thức vào Việt Nam, góp phần nhanh chóng hội nhập với khu vực và thế giới. Đặc biệt, trong điều kiện nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, việc đẩy mạnh hoạt động của các thành phần kinh tế vẫn đảm bảo cho kinh tế quốc doanh giữ vị trí then chốt, đóng vai trò chủ đạo.
Trong lĩnh vực văn hoá - tư tưởng: Trong nền kinh tế nhiều thành phần Công đoàn phát huy vai trò của mình trong việc giáo dục công nhân, viên chức và lao động nâng cao lập trường giai cấp, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hoạt động, phát huy những giá trị cao đẹp, truyền thống văn hoá dân tộc và tiếp thu những thành tựu tiên tiến của văn minh nhân loại góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam. Trong lĩnh vực xã hội: Công đoàn có vai trò trong tham gia xây dựng giai cấp công nhân vững mạnh cả về số lượng và chất lượng, không ngừng nâng cao trình độ giác ngộ chính trị, tính tổ chức kỷ luật, trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật, có nhãn quan chính trị, thực sự là lực lượng nòng cốt của khối liên minh công - nông - trí thức, làm nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân, là cơ sở vững chắc đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng và tăng cường sức mạnh của Nhà nước. Chức năng của tổ chức Công đoàn Việt Nam Công đoàn Việt Nam có ba chức năng [23]: 10 - Công đoàn đại diện và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của người lao động; có trách nhiệm tham gia với Nhà nước phát triển sản xuất, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của người lao động. - Công đoàn đại diện và tổ chức người lao động tham gia quản lý cơ quan, đơn vị, tổ chức, quản lý kinh tế xã hội, quản lý Nhà nước trong phạm vi chức năng của mình, thực hiện quyền kiểm tra giám sát hoạt động của cơ quan đơn vị, tổ chức theo quy định của pháp luật.
- Công đoàn có trách nhiệm tổ chức, giáo dục động viên người lao động phát huy vai trò làm chủ đất nước, thực hiện nghĩa vụ công dân, xây dựng và phát triển bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa. Chức năng của Công đoàn là một chính thể, một hệ thống đồng bộ, đan xen tương tác lẫn nhau. Trong đó, chức năng bảo vệ quyền, lợi ích người lao động mang ý nghĩa trung tâm - mục tiêu hoạt động công đoàn. Từ các chức năng này sẽ định ra các nhiệm vụ cụ thể của Công đoàn.
Công đoàn Việt Nam luôn luôn trung thành với lợi ích của giai cấp công nhân và của dân tộc, đồng thời phát huy truyền thống đoàn kết quốc tế, tăng cường và mở rộng quan hệ với công đoàn các nước, các tổ chức quốc tế trên nguyên tắc hữu nghị, đoàn kết, bình đẳng, hợp tác cùng có lợi, phấn đấu cho mục tiêu: Vì quyền, lợi ích người lao động, vì hoà bình, dân chủ, độc lập dân tộc, phát triển và tiến bộ xã hội. Khái quát về tài chính công đoàn Việt Nam 1. Khái niệm, bản chất tài chính công đoàn Việt Nam 1. Khái niệm tài chính công đoàn Tài chính công đoàn là một bộ phận của tài chính Nhà nước, được tạo lập bởi các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối tổng sản phẩm xã hội dưới hình thái giá trị, thông qua đó các quỹ tiền tệ được hình thành và sử dụng nhằm xây dựng, củng cố, phát triển tổ chức công đoàn vững mạnh.
Tổ chức công đoàn thực hiện quản lý, sử dụng tài chính công đoàn theo 11 quy định của pháp luật và quy định của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Tài chính công đoàn được quản lý theo nguyên tắc tập trung, dân chủ, công khai, minh bạch, có phân công, phân cấp quản lý, gắn trách nhiệm của công đoàn các cấp,là tài chính của tổ chức công đoàn hình thành theo Luật Công đoàn, Điều lệ Công đoàn Việt Nam. Trong các văn bản quy phạm pháp luật từ trước tới nay cũng như các quy định của Tổng Liên đoàn về tài chính công đoàn một số thuật ngữ được sử dụng không thống nhất: Quỹ công đoàn, tài chính công đoàn, ngân sách công đoàn. Từ năm 2013, sau khi Luật Công đoàn năm 2012 có hiệu lực thi hành trong các văn bản quy phạm pháp luật cũng như các quy định của Tổng Liên đoàn thống nhất dùng thuật ngữ tài chính công đoàn.
Ở Việt Nam, tài chính công đoàn, nhìn từ góc độ hình thức biểu hiện của nó, là quá trình hình thành, sử dụng, cân đối các quỹ tiền tệ tập trung thuộc thẩm quyền quản lý của Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam. Bản chất tài chính công đoàn * Tài chính Công đoàn thuộc nhóm tài chính của các tổ chức chính trị - xã hội - một khâu trong hệ thống tài chính quốc gia [23]. Tài chính công đoàn cũng bao gồm thu và chi. - Nguồn thu tài chính công đoàn gồm: Đoàn phí công đoàn do đoàn viên công đoàn đóng; Kinh phí công đoàn do cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp đóng; Ngân sách nhà nước cấp hỗ trợ và nguồn thu khác.
- Chi tài chính công đoàn là quá trình phân bổ, sử dụng nhằm bảo đảm các hoạt động thực hiện quyền, trách nhiệm của Công đoàn và duy trì hoạt động của hệ thống công đoàn.