Chương 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN THU - CHI CỦA CƠ QUAN BẢO HIỂM XÃ HỘI 1. Khái quát về Bảo hiểm xã hội 1. Khái niệm và bản chất về bảo hiểm xã hội 1. Khái niệm Theo định nghĩa của tổ chức lao động quốc tế “BHXH là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình khi họ gặp khó khăn do bị mất hoặc giảm thu nhập gây ra bởi ốm đai, mất khả năng lao động, tuổi già, tàn tật và chết.
Hơn nữa BHXH còn bảo vệ cho việc chăm sóc y tế, sức khoẻ và trợ cấp cho các gia đình khi cần thiết” [19]. Định nghĩa này phản ánh một cách tổng quan về mục tiêu, bản chất và chức năng của BHXH đối với mỗi quốc gia. Mục tiêu cuối cùng của bảo hiểm xã hội là hướng tới sự phát triển của mỗi cá nhân trong cộng đồng và của toàn xã hội đối với mọi người. Theo từ điển bách khoa Việt Nam: Bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với nguời lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động như: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, tử tuất, già yếu, mất việc làm, trên cơ hình thành một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia Bảo hiểm xã hội, có sự bảo hộ của Nhà nước theo đúng pháp luật.
Nhằm bảo đảm an toàn, ổn định đời sống cho NLĐ và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo xã hội. Theo luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 tại khoản 1 điều 3 thì BHXH là Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội [16]. Bản chất của bảo hiểm xã hội Bảo hiểm xã hội là nhu cầu khách quan, đa dạng, phức tạp của xã hội, nhất là trong xã hội mà sản xuất hàng hoá hoạt động theo cơ chế thị trường, 8 mối quan hệ thuê mướn lao động phát triển tới một mức độ nào đó. Kinh tế càng phát triển thì Bảo hiểm xã hội càng đa dạng và hoàn thiện.
BHXH vừa để thực hiện các mục đích xã hội, vừa để thực hiện các mục đích kinh tế trong mỗi cộng đồng, quốc gia. - Bản chất kinh tế của BHXH Bản chất kinh tế của BHXH thể hiện ở chỗ những người tham gia cùng đóng góp một khoản tiền trích trong thu nhập (khoản đóng góp này không ảnh hưởng lớn đến đời sống và SXKD của cá nhân hoặc đơn vị) để lập một quỹ dự trữ. Các khoản đóng góp vào quỹ BHXH bao gồm: đóng góp của NLĐ, NSDLĐ và sự hỗ trợ của Nhà nước. Mục đích của việc hình thành quỹ BHXH để trợ cấp cho những NLĐ khi gặp rủi ro, tránh được những hụt hẫng về thu nhập cho họ.
Sự hỗ trợ này được lấy từ quỹ BHXH nên giảm và tiết kiệm được chi NSNN. Đồng thời, bản chất kinh tế còn được thể hiện ở chỗ, NLĐ chỉ đóng một phần nhỏ trong thu nhập của mình, nhưng do nhiều nguồn hình thành khác có khoản tiền lớn đảm bảo đủ chi trả tài chính cho họ khi phát sinh nhu cầu được thanh toán. Quỹ BHXH hoạt động theo nguyên tắc “số đông bù số ít”. Do tính đặc thù giữa thời gian khoản tiền đóng góp của các bên tham gia BHXH và thời gian khoản chi trả trợ cấp BHXH cho những người hưởng chế độ không trùng nhau, đã tạo cho quỹ BHXH có nguồn tiền tạm thời “nhàn rỗi”.
Khoản tiền tạm thời “nhàn rỗi” được sử dụng cho hoạt động đầu tư sinh lời bảo tồn giá trị cho quỹ BHXH. Quỹ BHXH được đặc trưng bằng sự vận động của các nguồn tài chính trong quá trình tạo lập và sử dụng, được phản ánh các quan hệ kinh tế trong quá trình phân phối lại thu nhập các nguồn lực giữa các chủ thể tham gia tạo lập và sử dụng quỹ BHXH. Những luận cứ trên đây đã chứng minh rằng bên cạnh mục tiêu hoạt động BHXH là an toàn xã hội về kinh tế cho mọi người trong cộng đồng, thì BHXH còn là một hình thức huy động vốn. Và với sức mạnh về tài chính của mình cùng với sự quản lý của Nhà nước, BHXH sẽ góp phần ổn định tài 9 chính, tiền tệ quốc gia.
- Bản chất xã hội của BHXH BHXH thuộc phạm vi hệ thống chính sách xã hội, nó liên quan đến lợi ích của mọi người dân trong xã hội. Thể hiện ở chỗ quỹ BHXH là một bộ phận của tổng sản phẩm trong nước được xã hội tổ chức, quản lý, bảo tồn và phân phối lại thu nhập. BHXH còn là công cụ cải thiện điều kiện sống của mọi tầng lớp dân cư, đặc biệt là NLĐ. Những hụt hẫng và biến cố về thu nhập trong các trường hợp ốm đau, tai nạn làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm hoặc khi già yếu trở thành mối đe dọa cuộc sống bình thường của NLĐ.
Để khắc phục tình trạng này, với truyền thống “lá lành đùm lá rách”, tinh thần “tương thân tương ái” trong nhân dân được phát huy dưới các hình thức đóng góp của Nhà nước, NSDLĐ vàNLĐ khi họ còn khỏe mạnh, còn có thu nhập, để dùng vào lúc tuổi già, lúc ốm đau. Kết quả của sự phân phối lại đó tạo ra được sự bình đẳng hơn về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội. Chính từ đó góp phần tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng sức lao động, tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất có hiệu quả, tạo được thêm nhiều công ăn việc làm, tăng thu nhập đồng thời phát triển tốt hơn các dịch vụ xã hội phục vụ cho con người như y tế, giáo dục, văn hoá. Như vậy, thực tế cho thấy BHXH là công cụ quan trọng và hiệu quả để tạo nên một mạng lưới an toàn cho con người, hoạt động BHXH không vì mục tiêu lợi nhuận mà hoạt động vì mục đích bảo đảm sự phát triển lâu bền của nền kinh tế, góp phần ổn định và thúc đẩy tiến bộ xã hội.
Chức năng của bảo hiểm xã hội BHXH được xem như là một loạt các hoạt động mang tính xã hội nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động, mở rộng sản xuất, phát triển kinh tế, ổn định trật tự xã hội nói chung do vậy BHXH có chức năng: - Thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho NLĐ tham gia BHXH khi họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm. Đây là chức 10 năng cơ bản nhất của BHXH, nó quyết định nhiệm vụ, tính chất và cơ chế tổ chức hoạt động của BHXH. - Tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia BHXH. BHXH cũng dựa trên nguyên tắc lấy số đông bù số ít, do vậy mọi người lao động khi tham gia BHXH đều bình đẳng trong việc đóng góp vào quỹ cũng như được bình đẳng trong quyền lợi nhận được từ các chế độ BHXH.
- BHXH là đòn bẩy, khuyến khích NLĐ hăng hái tham gia lao động sản xuất và từ đó nâng cao năng suất lao động. - BHXH thực hiện chức năng điều hoà lợi ích giữa ba bên: NLĐ, NSDLĐ, Nhà nước đồng thời làm giảm bớt mâu thuẫn xã hội, góp phần ổn định chính trị, kinh tế, xã hội. - BHXH còn thực hiện chức năng giám đốc bởi BHXH tiến hành kiểm tra, giám sát việc tham gia thực hiện chính sách BHXH của NLĐ, người sử dụng lao động (NSDLĐ) theo quy định của pháp luật nhằm đảm bảo quyền lợi cho NLĐ, góp phần ổn định xã hội. Với những chức năng trên, BHXH đã trở thành một trong những quyền con người, được Đại hội đồng Liên hợp quốc thừa nhận và ghi vào Tuyên ngôn Nhân quyền ngày (10/12/1948): “Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội có quyền hưởng BHXH, quyền đó được đặt cơ sở trên sự thoả mãn các quyền về kinh tế, xã hội và văn hoá nhu cầu cho nhân cách và sự tự do phát triển con người”[21].
Vai trò của bảo hiểm xã hội 1. Bảo hiểm xã hội góp phần thực hiện công bằng xã hội Về bản chất kinh tế có thể khẳng định ngay BHXH không nhằm mục đích kinh doanh, lợi nhuận, nhưng lại là công cụ thực hiện phân phối lại thu nhập. BHXH dựa trên nguyên tắc NLĐ bình đẳng trong nghĩa vụ đóng góp và quyền lợi được hưởng trong BHXH thông qua hoạt động của mình. BHXHtham gia vào việc phân phối và phân phối lại thu nhập xã hội giữa 11 những NLĐ thế hệ trước với thế hệ sau, giữa những ngành nghề sản xuất, giữa những người thu nhập cao và người có thu nhập thấp, giữa những người may mắn và không may mắn.
Vì vậy, BHXH góp phần thực hiện công bằng xã hội. Chính sách BHXH công bằng, hợp lý, tiến bộ sẽ tạo ra động lực để thực hiện tốt chính sách kinh tế, giải quyết tốt những vấn đề xã hội. Dù trong điều kiện nào, với hình thức nào, BHXH cũng lấy mục tiêu an sinh xã hội làm căn bản. Hệ thống BHXH được mở rộng góp phần giảm bớt những đối tượng cần trợ giúp xã hội.
Và như vậy gánh nặng của Ngân sách, của các quỹ công cộng và của cộng đồng sẽ nhẹ bớt. Điều này cũng có nghĩa là hệ thống an sinh xã hội quốc gia càng đảm bảo và phát triển. Bảo hiểm xã hội góp phần tăng trưởng kinh tế Như đã biết, trong kinh tế thị trường, BHXH được thực hiện theo cơ chế ba bên: NLĐ, NSDLĐ và Nhà nước. Những đóng góp của các bên tham gia BHXH nêu trên là những nguồn cơ bản hình thành quỹ BHXH.
Ngoài nguồn tài chính rất lớn từ sự đóng góp của NLĐ và NSDLĐ được tồn tích lại, quỹ BHXH còn có những nguồn thu khác, như thu từ các hoạt động đầu tư, thu từ các khoản nộp phạt do chậm nộp BHXH của các cơ quan, doanh nghiệp, thu từ các hỗ trợ của các tổ chức quốc tế (nếu có) và các khoản thu khác. Chức năng của quỹ BHXH là để chi trả các trợ cấp BHXH và chi phí cho các hoạt động của hệ thống BHXH. Quỹ BHXH là một quỹ tiêu dùng, đồng thời cũng là một quỹ dự phòng. Nó vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính xã hội rất cao và là phương tiện quan trọng nhất đảm bảo cho toàn bộ hệ thống BHXH tồn tại và phát triển.
Tuy nhiên, quỹ BHXH lại độc lập với Ngân sách Nhà nước.