CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 1. Tổng quan về kế toán quản trị. Khái niệm và bản chất của kế toán quản trị. Khái niệm kế toán quản trị Xuất phát điểm của KTQT là kế toán chi phí, nghiên cứu chủ yếu về quá trình tính toán giá phí sản phẩm như giá phí tiếp liệu, giá phí sản xuất nhằm đề ra các quyết định cho phù hợp, xác định giá trị hàng tồn kho và kết quả kinh doanh theo từng hoạt động.
Dần dần cùng với sự phát triển của khoa học quản lý nói chung, khoa học kế toán cũng có những bước phát triển mạnh mẽ, đặc biệt từ năm 1957 trở lại đây, nhiều quốc gia có nền kinh tế phát triển trên thế giới đã đi sâu nghiên cứu, áp dụng và sử dụng những thông tin kế toán phục vụ cho yêu cầu quản lý. Sự phát triển mạnh mẽ của kế toán đã đặt ra hướng nghiên cứu các công cụ kiểm soát và lập kế hoạch, thu nhận và xử lý thông tin phục vụ cho công việc ra quyết định gọi là KTQT. Cho đến nay đã tồn tại rất nhiều quan điểm khác nhau về KTQT, tuy nhiên có thể hiểu KTQT là một khoa học thu thập, xử lý và cung cấp những thông tin định lượng về hoạt động của đơn vị một cách cụ thể, giúp các nhà quản lý trong quá trình ra quyết định liên quan đến việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra, kiểm soát và đánh giá tình hình thực hiện các hoạt động của đơn vị [9]. Như vậy, cùng với sự xuất hiện của nền kinh tế thị trường, KTQT đã ra đời và trở thành công cụ quan trọng trợ giúp cho những người làm công tác quản lý ra quyết định sản xuất kinh doanh và là phương tiện để thực hiện kiểm soát quản lý trong doanh nghiệp.
Bản chất của kế toán quản trị Từ các nội dung trên, có thể đưa ra những nét cơ bản về bản chất của kế toán quản trị như sau: - Kế toán quản trị không chỉ thu nhận, xử lý, và cung cấp các thông tin về các nghiệp vụ kinh tế đã thực sự hoàn thành, mà còn xử lý và cung cấp các thông tin phục vụ cho việc ra quyết định quản lý. Để có các thông tin này, kế toán quản trị phải sử dụng các phương pháp khoa học để phân tích, xử lý chúng một cách cụ thể phù hợp với nhu cầu thông tin của nhà quản trị, hệ thống hóa các thông tin theo một trình tự dễ hiểu và giải trình quá trình phân tích theo những chỉ tiêu cụ thể phục vụ cho công tác quản trị. - Kế toán quản trị chỉ cung cấp những thông tin về hoạt động kinh tế tài chính trong phạm vi yêu cầu quản lý nội bộ của doanh nghiệp. Những thông tin đó chỉ có ý nghĩa đối với những người, những bộ phận và nhà điều hành, quản lý doanh nghiệp mà không có ý nghĩa với các đối tượng bên ngoài.
Vì vậy có thể nói kế toán quản trị là loại kế toán dành cho người làm công tác quản lý trong khi đó kế toán tài chính không phục vụ trực tiếp cho mục đích này. - Kế toán quản trị là một bộ phận của công tác kế toán nói chung và là công cụ không thể thiếu đối với công tác quản lý nội bộ doanh nghiệp. Sự góp mặt của kế toán tài chính và kế toán quản trị làm cho hệ thống kế toán của doanh nghiệp trở nên đầy đủ hơn nhưng giữa chúng hoàn toàn không đồng nhất. Do đó, việc đưa ra hai bộ phận trong hệ thống kế toán của doanh nghiệp là kế toán tài chính và kế toán quản trị nhằm mục đích làm rõ những điểm khác biệt, trên cơ sở đó để thấy vị trí cũng như mối quan hệ của hai bộ phận trong doanh nghiệp.
So với kế toán tài chính, kế toán quản trị có những điểm khác nhau e 9 Bảng 1.1: Những điểm khác nhau giữa kế toán quản trị và kế toán tài chính Chỉ tiêu Kế toán quản trị Kế toán tài chính 1.Đối tượng sử Nhà quản trị bên trong doanh Những đối tượng bên ngoài dụng thông tin nghiệp doanh nghiệp 2. Đặc điểm của Linh hoạt, thích hợp, hướng về Phản ánh quá khứ khách quan, thông tin cung tương lai, biểu hiện bằng giá trị và biểu hiện bằng giá trị cấp hiện vật 3.Các nguyên tắc Do người quản lý quyết định, hữu Tuân thủ các nguyên tắc, chuẩn cung cấp thông ích cho quản lý, không có nguyên mực kế toán tin tắc chung 4.Phạm vi thông Từng bộ phận, từng khâu công việc Toàn doanh nghiệp tin 5.Kỳ báo cáo Thường xuyên, theo từng yêu cầu Định kỳ (tháng, quý, năm) quản lý 6.Mức độ chính Chú trọng tính kịp thời, ít chú trọng Tính chính xác cao hơn xác tính chính xác 7.Tính pháp lý Không có tính pháp lệnh Có tính pháp lệnh 1. Mục đích và vai trò của kế toán quản trị a. Mục đích của kế toán quản trị KTQT là loại kế toán dành riêng cho các nhà quản lý, trợ giúp cho việc ra quyết định theo từng tình huống cụ thể.
Các quyết định của nhà quản lý hầu hết đều liên quan đến vấn đề chi phí (tiêu dùng nguồn lực) và giá trị thu được (lợi ích) do các chi phí tạo ra. Vì vậy mục tiêu của kế toán quản trị tập trung vào hai mục tiêu chủ yếu sau: - Nhằm liên kết giữa việc tiêu dùng các nguồn lực (chi phí) và nhu cầu tài trợ với các nguyên nhân của việc tiêu dùng các nguồn lực đó (chi phí phát sinh) để thực hiện các mục đích cụ thể của đơn vị. e 10 - Tìm cách tối ưu hoá mối quan hệ giữa chi phí với giá trị (lợi ích) mà chi phí đó tạo ra. Song song với việc thực hiện nhiệm vụ của kế toán nói chung như: thu thập, xử lý, phân tích thông tin, số liệu; Kiểm tra, giám sát tình hình tài chính, tài sản; cung cấp thông tin, tham mưu, đề xuất các giải pháp phục vụ yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính của đơn vị, KTQT còn thực hiện nhiệm vụ sau: - Tính toán đưa ra mô hình nhu cầu vốn cho một hoạt động hay một quyết định cụ thể.
- Đo lường, tính toán chi phí cho một hoạt động, sản phẩm hoặc một quyết định cụ thể. Tìm ra những giải pháp tác động lên các chi phí để tối ưu hoá mối quan hệ Chi phí- Khối lượng- Lợi nhuận. Vai trò của KTQT trong doanh nghiệp KTQT là công cụ quản trị, một công cụ rất quan trọng trong quá trình hoạch định và kiểm soát chi phí, thu nhập, tính toán hiệu quả quá trình kinh doanh nhằm đưa ra các quyết định quản trị đúng đắn. Thật vậy, quá trình sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp ở bất kỳ hình thái kinh tế xã hội nào, thành phần kinh tế nào muốn đạt được hiệu quả cao cũng cần phải biết được thông tin về tình hình hoạt động kinh tế tài chính một cách kịp thời, đầy đủ, chính xác và trung thực.
Những thông tin về tình hình chi phí mà các doanh nghiệp đã chi ra cho từng hoạt động kinh doanh, từng địa điểm kinh doanh hoặc từng loại sản phẩm. Những thông tin về thu nhập và xác định kết quả sản xuất kinh doanh theo từng hoạt động, địa điểm hoặc sản phẩm đó chỉ có thể nhận biết được một cách cụ thể thông qua việc thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin của KTQT. Trên cơ sở các thông tin đã thu nhận được, KTQT có nhiệm vụ phân tích, diễn giải, lập dự toán chi tiết để phục vụ cho nhà quản e 11 trị lựa chọn, quyết định phương án tối ưu nhất trong quản lý. Việc quyết định đưa vào sản xuất sản phẩm nào đó, sản lượng là bao nhiêu, chi phi và lợi nhuận ở mức nào, tại sao chi phí thực tế với dự tính vượt và phải có biện pháp gì để giảm thấp chi phí, tăng lợi nhuận.
Những vấn đề này chỉ có thể quyết định được khi nhà quản trị có đầy đủ số liệu do KTQT cung cấp. Hoạt động quản trị doanh nghiệp là quá trình liên tục từ khâu lập kế hoạch đến khâu tổ chức kiểm tra thực hiện kế hoạch vì thế không thể thiếu những thông tin do KTQT cung cấp. Mục đích và yêu cầu của KTQT là phải tính toán được chi phí của từng hoạt động kinh doanh, từng loại sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ hoặc từng địa điểm kinh doanh; phân tích chi tiết được kết quả của từng hoạt động, từng sản phẩm, hàng hoá và dịch vụ đó. Tập hợp được các số liệu cần thiết để phác hoạ, lập kế hoạch kinh doanh cho tương lai.
Ngoài ra, KTQT còn phải tính toán nhu cầu thị trường nhằm có kế hoạch ổn định chương trình sản xuất, bán hàng hợp lý và đưa ra các biện pháp cạnh tranh, mở rộng thị trường và phát triển doanh nghiệp theo hướng có lợi nhất. Kế toán quản trị có vai trò quan trọng trong việc thực hiện chức năng quản lý của các cấp quản trị doanh nghiệp. Thông tin do kế toán quản trị cung cấp phục vụ cho các hoạt động quản lý từ lập kế hoạch, tổ chức điều hành, kiểm soát và ra quyết định. - Trong việc lập kế hoạch: các kế hoạch của nhà quản lý được các nhân viên kế toán biểu thị một cách định lượng thông qua việc thiết lập các dự toán – đây là hình thức biểu hiện định lượng của các mục tiêu quản trị.
Để thực hiện chức năng lập kế hoạch, các nhà quản lý cần những thông tin kịp thời, chính xác và có cơ sở mà những thông tin này chủ yếu do kế toán quản trị cung cấp. - Trong việc tổ chức và điều hành: nhà quản lý có nhu cầu rất lớn về e 12 thông tin kế toán, nhất là thông tin kế toán quản trị trong việc lãnh đạo và quản lý hoạt động hàng ngày. Trong việc tổ chức, nhà quản lý sẽ quyết định cách liên kết tốt nhất giữa tổ chức, con người với các nguồn lực lại với nhau sao cho kế hoạch được thực hiện có hiệu quả nhất. Trong việc điều hành, các nhà quản lý giám sát hoạt động hàng ngày và giữ cho cả tổ chức hoạt động trôi chảy.
- Trong việc kiểm soát: sau khi đã lập kế hoạch và tổ chức thực hiện, nhà quản lý phải kiểm tra và đánh giá việc thực hiện kế hoạch. Để thực hiện chức năng kiểm tra, các nhà quản lý sử dụng các bước công việc cần thiết để đảm bảo cho từng bộ phận và cả tổ chức đi theo đúng kế hoạch đã vạch ra.