CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TRONG DOANH NGHIỆP ĐÓNG TÀU 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT 1. Khái niệm kế toán quản trị chi phí sản xuất Kế toán quản trị chi phí sản xuất là một bộ phận của hệ thống kế toán quản trị nhằm cung cấp thông tin về chi phí sản xuất để mỗi tổ chức thực hiện chức năng quản trị yếu tố nguồn lực tiêu dùng cho các hoạt động, nhằm xây dựng kế hoạch, kiểm soát, đánh giá hoạt động và ra các quyết định hợp lý. Bản chất và vai trò của kế toán quản trị chi phí sản xuất - Bản chất của kế toán quản trị chi phí sản xuất Kế toán quản trị cung cấp thông tin thường xuyên và liên tục.
Đối với nhà quản trị thông tin cần thiết về quá khứ và hiện tại là dự toán cho tương lai. Do đó, yêu cầu kế toán quản trị là phải xây dựng dự toán, thu nhận và xử lý các thông tin về chi phí, giá thành, thu nhập và kết quả. của từng tổ, đội, phân xưởng hoặc cho từng công việc, từng sản phẩm, từng công đoạn sản xuất hoặc cho cả quá trình sản xuất. Tiến hành phân tích kịp thời các thông tin làm căn cứ cho việc đưa ra các giải pháp, quyết định đúng đắn để đối phó kịp thời với những diễn biến của thị trường, sử dụng hiệu quả các nguồn lực của doanh nghiệp [9].
Kế toán quản trị không nhận thức chi phí theo quan điểm của kế toán tài chính mà phải được nhận diện theo nhiều phương diện khác nhau để đáp ứng nhu cầu thông tin trong hoạch định, tổ chức thực hiện, kiểm soát và ra quyết định [9]. 8 - Vai trò của kế toán quản trị chi phí sản xuất + Cung cấp thông tin hoạch định hoạt động sản xuất kinh doanh; + Cung cấp thông tin kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh; + Cung cấp thông tin kiểm tra, đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh; + Cung cấp thông tin cho việc ra quyết định quản trị của những nhà quản trị trong nội bộ doanh nghiệp [4]. ĐẶC ĐIỂM NGÀNH ĐÓNG TÀU VÀ NHỮNG ẢNH HƯỞNG ĐỐI VỚI CÔNG TÁC TỔ CHỨC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT 1. Đặc điểm sản phẩm và sản xuất sản phẩm của ngành đóng tàu - Sản phẩm có tính đơn chiếc Do sự khác biệt về mục đích và nhu cầu của người sử dụng dẫn đến mỗi thiết kế (kiểu dáng, kích cỡ, các thông số kỹ thuật,.) và yêu cầu riêng về vật tư (chủng loại, đặc tính của máy móc, trang bị,.) của từng con tàu là khác nhau.
Vì vậy, hai con tàu tuy có cùng trọng tải nhưng thiết kế khác nhau sẽ có chi phí sản xuất khác nhau, hoặc hai tàu có thiết kế như nhau về kiểu vỏ, cabin,. nhưng có trọng tải khác nhau cũng sẽ có chi phí sản xuất khác nhau,. - Đa dạng, phong phú về chủng loại Trong chủng loại tàu có các loại như tàu dầu, tàu chở hàng khô, tàu chở khách, tàu quân sự, tàu đánh cá, tàu du lịch,. Trong mỗi chủng loại lại khác nhau về thiết kế, quy mô, kích cỡ như chủng loại tàu với các trọng tải: dưới 100 tấn, trên 100 tấn, loại 200 tấn, 400 tấn, 500 tấn, 1.
- Mỗi sản phẩm có chu kỳ sản xuất khác nhau Trong điều kiện sản xuất bình thường, tàu có trọng tải từ 1.000 tấn trở lên có chu kỳ sản xuất khoảng 5 tháng, tàu 2.000 tấn có chu kỳ sản xuất từ 5 tháng đến 1 năm,. 9 - Đặc tính về hạng mục công việc (HMCV) Để sản xuất một con tàu phải chia con tàu ra làm nhiều tổng đoạn, trong mỗi tổng đoạn được chia làm nhiều phân đoạn, trong mỗi phân đoạn chia ra nhiều HMCV chi tiết, trong mỗi HMCV chi tiết chia ra làm nhiều bước công việc. Các phân đoạn sau khi sản xuất xong được đấu ghép vào nhau gọi là đấu các phân đoạn thành các tổng đoạn và sau đó là đấu các tổng đoạn thành toàn bộ con tàu. Sau khi đấu ráp thành một con tàu, tiến hành hoàn thiện các hệ thống điện, nước, trang trí, hệ thống hút khô, bơm nước, hệ thống xả, hệ thống phòng cháy chữa cháy,.
để hoàn thiện con tàu [11]. Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm Theo tạp chí của Tập đoàn kinh tế Vinashin tháng 9 năm 2006, quy trình tổng quát khi đóng mới một con tàu hiện nay tại các doanh nghiệp thường trải qua 10 giai đoạn: Giai đoạn 1: Thiết kế Ở giai đoạn này, người ta thực hiện các bản vẽ thiết kế hình dáng vỏ tàu, chân vịt đồng thời tiến hành chế tạo và thử mô hình ngay sau khi kí hợp đồng. Giai đoạn 2: Cắt tôn Đầu tiên các tấm tôn được sơn lót, sau đó được chuyển đến phân xưởng cắt. Mỗi tấm tôn khi được cắt ra sẽ có kí hiệu riêng và sau đó chúng được chuyển sang phân xưởng lắp ráp.
Giai đoạn 3: Lắp ráp phân, tổng đoạn Trong quá trình lắp ráp, các tấm tôn riêng biệt được hàn vào với nhau thành các phân, tổng đoạn. Công việc lắp ráp được thực hiện theo quy trình, các tấm tôn phẳng như khung dọc, khung ngang được lắp trước, sau đó mới nối với các phần cong. 10 Giai đoạn 4: Sơ bộ lắp ráp các khí cụ, giá đỡ Rất nhiều thiết bị được lắp sơ bộ trong khi lắp ráp các phân, tổng đoạn tàu. Các đường ống, cáp điện lớn và các bệ máy cũng được đặt đồng thời trong phân, tổng đoạn.
Các bộ phận thiết bị cho buồng máy, cho các đường ống, dây điện cũng được lắp sơ bộ. Giai đoạn 5: Sơn Các phân, tổng đoạn sau khi lắp xong được chuyển đến phân xưởng sơn. Bề mặt các tấm tôn của tổng đoạn được làm sạch và sau đó sơn từ 3 đến 6 lớp sơn. Các chỗ dùng để nối các tổng đoạn với nhau sẽ được sơn kỹ hơn sau khi các tổng đoạn đã được hàn nối với nhau trên đà.
Giai đoạn 6: Đấu tổng đoạn trên đà Sau khi sơn xong ở bãi lắp ráp ngoài trời gần đà, các phân đoạn nhỏ được hàn với nhau để thành các tổng đoạn lớn. Các tổng đoạn lớn được đưa lên đà để hàn đấu với nhau thành con tàu Giai đoạn 7: Hạ thủy Sau khi đấu xong các tổng đoạn và các phần mũi, lái,. tàu được hạ thủy xuống nước và đưa ra cầu tàu để tiếp tục lắp phần ca bin thượng tầng và các thiết bị khác. Giai đoạn 8: Lắp hoàn chỉnh thiết bị Trên những bệ, giá đã được lắp đặt sẵn ở giai đoạn trước trên tàu, các thiết bị như máy chính, thiết bị điện,.
được tiến hành lắp và hoàn thiện trong buồng máy, ca bin cũng như trong các khu vực khác của tàu. Giai đoạn 9: Thử đường dài Trong quá trình thử đường dài, tất cả chức năng của các hệ thống trên tàu sẽ được kiểm nghiệm và hoạt động như khi hành trình thật. Máy chính, trạm phát điện hoạt động cung cấp điện năng cho tất cả các thiết bị để tiến hành thử các hệ thống. 11 Giai đoạn 10: Bàn giao Sau khi tàu thử đường dài xong sẽ làm lễ bàn giao cho chủ tàu.
Sau khi bàn giao, tàu được phép chính thức vận hành. Tóm lại, quy trình tổng quát khi đóng mới một con tàu được thể hiện ở Sơ đồ 1.1: GIAI ĐOẠN 1: THIẾT KẾ GIAI ĐOẠN 2: CẮT TÔN GIAI ĐOẠN 3: LẮP RÁP PHÂN, TỔNG ĐOẠN GIAI ĐOẠN 4: SƠ BỘ LẮP RÁP CÁC KHÍ CỤ, GIÁ ĐỠ GIAI ĐOẠN 5: SƠN GIAI ĐOẠN 6: ĐẤU TỔNG ĐOẠN TRÊN ĐÀ GIAI ĐOẠN 7: HẠ THỦY GIAI ĐOẠN 8: LẮP HOÀN CHỈNH THIẾT BỊ GIAI ĐOẠN 9: THỬ ĐƯỜNG DÀI GIAI ĐOẠN 10: BÀN GIAO Sơ đồ 1. Quy trình đóng tàu tổng quát [11] 12 1. Đặc điểm của ngành đóng tàu ảnh hưởng đến công tác kế toán quản trị chi phí sản xuất - Ảnh hưởng đến công tác xây dựng định mức và dự toán chi phí sản xuất Sản phẩm trong ngành đóng tàu có đặc điểm là đa dạng về chủng loại và có tính đơn chiếc, được sản xuất trong nhiều chu kỳ, chia ra nhiều phân đoạn, hạng mục công việc nên công tác xây dựng định mức và dự toán chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp đóng tàu có những điểm khác biệt.
Cụ thể: + Không có một dự toán chung cho các sản phẩm đóng tàu mà được lập một cách riêng biệt, theo từng thiết kế, tiêu chuẩn kỹ thuật của sản phẩm và phụ thuộc vào từng đơn đặt hàng của khách hàng. + Việc sản xuất sản phẩm trong các doanh nghiệp đóng tàu diễn ra trong nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, do vậy cần phải xây dựng bằng dự toán tiến độ sản xuất sản phẩm theo từng khoảng thời gian có kèm theo dự toán chi phí sản xuất của từng khoảng thời gian đó. - Ảnh hưởng đến công tác xác định và phân loại chi phí sản xuất + Việc sản xuất sản phẩm được phân chia thành nhiều tổng đoạn, nhiều HMCV, tính chất công việc khác nhau đòi hỏi việc xác định và phân loại chi phí sản xuất cũng cần được chi tiết, rõ ràng đến từng nội dung cụ thể. Có như vậy, việc phân loại, tổng hợp chi phí sản xuất theo từng HMCV, từng tính chất công việc và từng sản phẩm mới trở nên đơn giản, dễ dàng, phục vụ tốt cho công tác kiểm soát chi phí về sau.
+ Sản phẩm được sản xuất không mang tính chất hàng loại như một số ngành khác mà có tính riêng biệt đặc thù dẫn đến việc tách chi phí sản xuất chung thành định phí và biến phí trên đơn vị sản phẩm trở nên mất ý nghĩa. Do vậy việc theo dõi, kiểm soát chi phí sản xuất chung theo biến phí và định phí trên mỗi đơn vị sản phẩm là không cần thiết. 13 - Ảnh hưởng đến công tác lập các báo cáo phục vụ kiểm soát chi phí sản xuất + Việc sản xuất sản phẩm trong các doanh nghiệp đóng tàu diễn ra trong nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp dẫn đến việc doanh nghiệp không thể chờ đến khi sản phẩm đóng tàu hoàn thành mới tiến hành lập các báo cáo cần thiết. Sau mỗi khoảng thời gian nhất định (tháng, quý, năm) doanh nghiệp phải tiến hành nghiệm thu sơ bộ, đánh giá mức độ hoàn thành công việc.
Việc nghiệm thu phải được tiến hành theo từng công đoạn, HMCV chi tiết,. theo tính chất HMCV của từng con tàu. NỘI DUNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TRONG NGÀNH ĐÓNG TÀU 1. Phân loại chi phí sản xuất trong ngành đóng tàu a.