phần mở đầu, kết luận, và kiến nghị, luận văn gồm 4 chƣơng chính sau: Chƣơng I: Lý luận chung về tổ chức kế toán tại đơn vị SNCL Chƣơng II: Thực trạng tổ chức kế toán tại Liên đoàn Địa chất và Khoáng sản biển Chƣơng III: Hoàn thiện tổ chức kế toán tại Liên đoàn Địa chất và Khoáng sản biển 15 CHƢƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC KẾ TOÁN TẠI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 1. Các vấn đề chung về tổ chức kế toán trong đơn vị sự nghiệp công lập. Khái niệm, đặc điểm của đơn vị sự nghiệp công lập; Khái niệm đơn vị sự nghiệp công lập Theo giáo trình “Quản trị tài chính đơn vị hành chính sự nghiệp” [16, tr29- tr30] giáo trình nêu lên đơn vị SNCL là: Đơn vị đƣợc nhà nƣớc thành lập để thực hiện các nghĩa vụ quản lý hành chính, đảm bảo an ninh quốc phòng, phát triển kinh tế xã hội, các đơn vị này đƣợc Nhà nƣớc cấp kinh phí và hoạt động theo nguyên tắc không bồi hoàn trực tiếp. Theo điều 2 Nghị định 16/2015/NĐ-CP ban hành ngày 14/02/2015 [Mục 7,Phụ lục 1-01] Nghị định nêu lên: ĐVSNCL do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nƣớc thành lập theo quy định của pháp luật, có tƣ cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nƣớc.
Theo giáo trình “Tài chính hành chính sự nghiệp”: Đơn vị sự nghiệp Nhà nƣớc ( ĐVSNCL ) giáo trình nêu lên đơn vị HCSN là: Các đơn vị có hoạt động cung ứng các hàng hóa, dịch vụ công cho xã hội và các hàng hóa, dịch vụ khác trong các lĩnh vực giáo dục, y tế văn hóa thông tin, thể dục thể thao, nông lâm ngƣ nghiệp, kinh tế ., nhằm duy trì hoạt động bình thƣờng của các ngành kinh tế quốc dân. Đặc tính chủ yếu của các đơn vị sự nghiệp là hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, mang tính chất phục vụ cộng đồng là chính. Căn cứ vào khả năng tự trang trải chi phí hoạt động có thể chia ra thành: Đơn vị sự nghiệp có thu, và đơn vị sự nghiệp thuần túy. Qua các khái niệm nêu trên, tác giả nhận thấy các khái niệm về đơn vị hành chính sự nghiệp công lập đều có sự tƣơng đồng.
Tuy nhiên theo quan điểm của tác giả: Đơn vị SNCL đƣợc thành lập bởi cơ quan có thẩm quyền của NN, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội theo Trình tự, thủ tục pháp luật quy định. Là bộ phận cấu thành trong tổ chức bộ máy của cơ quan nhà nƣớc, tổ chức chính trị, tổ 16 chức chính trị - xã hội, có tƣ cách pháp nhân, Cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nƣớc, viên chức là lực lƣợng lao động chủ yếu, bảo đảm cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của đơn vị Đặc điểm đơn vị sự nghiệp công lập Đơn vị SNCL đƣợc thành lập để cung cấp các dịch vụ sự nghiệp công đáp ứng nhu cầu của xã hội. Dịch vụ công là dịch vụ phục vụ quyền cơ bản của công dân, phục vụ sự phát triển kinh tế xã hội nhƣ giáo dục - đào tạo, y tế, văn hóa, thể dục - thể thao, môi trƣờng, dịch vụ sự nghiệp trong các lĩnh vực nông nghiệp phát triển nông thôn, giao thông vận tải, khoa học công nghệ xây dựng. Đặc điểm đơn vị SNCL đƣợc thể hiện qua các mặt sau: Đơn vị SNCL chịu trách nhiệm về cung cấp các dịch vụ công về giáo dục, y tế, văn hóa, thể dục - thể thao, … có chất lƣợng cao cho xã hội, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của nhân dân, góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân.
Đơn vị SNCL thực hiện các nhiệm vụ chính trị đƣợc giao nhƣ: đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực có chất lƣợng và trình độ cao, khám chữa bênh, bảo vệ sức khỏe cho ngƣời dân, nghiên cứu và ứng dụng các kết quả khoa học, công nghệ, cung cấp các sản phẩm về văn hóa nghệ thuật,… nhằm phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc. Đối với từng lĩnh vực hoạt động sự nghiệp, các đơn vị sự nghiệp công lập đều có vai trò chủ đạo trong việc tham gia đề xuất và thực hiện các đề án chƣơng trình lớn phục vụ sự phát triển của đất nƣớc. Đơn vị SNCL thông qua hoạt động thu phí, lệ phí tuân theo quy định của nhà nƣớc, góp phần tăng cƣờng nguồn lực, đẩy mạnh đa dạng hóa và xã hội hóa nguồn lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Phân loại đơn vị sự nghiệp công lập; Theo luật ngân sách Nhà nƣớc, kế toán đơn vị sự nghiệp đƣợc tổ chức theo hệ thống dọc tƣơng ứng với từng cấp ngân sách nhằm phù hợp với công tác chấp hành ngân sách đó.
Căn cứ theo cấp ngân sách, các đơn vị SNCL đƣợc phân loại nhƣ sau: 17 - Đơn vị dự toán cấp I: Là đơn vị trực tiếp nhận kinh phí ngân sách nhà nƣớc cấp hàng năm từ cơ quan tài chính, phân bổ ngân sách cho các đơn vị dự toán cấp dƣới. - Đơn vị dự toán cấp II: Là đơn vị trực thuộc đơn vị dự toán cấp I có nhiệm vụ quản lý kinh phí ở cấp trung gian, là cầu nối giữa đơn vị dự toán cấp I và cấp III trong một hệ thống. - Đơn vị dự toán cấp III: Là đơn vị trực tiếp sử dụng vốn ngân sách để thực hiện nhiệm vụ đƣợc giao. Đơn vị dự toán cấp III nhận kinh phí ngân sách từ đơn vị cấp II hoặc cấp I ( trong trƣờng hợp không có đơn vị cấp II ).
- Đơn vị cấp dƣới của đơn vị dự toán cấp III đƣợc nhận kinh phí để thực hiện phần công việc cụ thể, khi chi tiêu phải thực hiện tổ chức kế toán và quyết toán với đơn vị dự toán cấp trên nhƣ quy định đối với đơn vị dự toán cấp III với cấp II, và cấp II với cấp I. Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động, các đơn vị sự nghiệp công lập có thể phân loại thành. - Đơn vị sự nghiệp trong lĩnh vực giáo dục đào tạo - Đơn vị sự nghiệp trong lĩnh vực y tế - Đơn vị sự nghiệp trong lĩnh vực văn hóa thông tin - Đơn vị sự nghiệp trong lĩnh vực thể dục thể thao - Đơn vị sự nghiệp trong lĩnh vực khoa học công nghệ, môi trƣờng - Đơn vị sự nghiệp trong lĩnh vực kinh tế - Đơn vị sự nghiệp khác Căn cứ vào mức độ tự đảm bảo chi hoạt động từ nguồn thu sự nghiệp, các đơn vị sự nghiệp được chia thành - Đơn vị sự nghiệp công tự đảm bảo kinh phí cho hoạt động thƣờng xuyên: Là các đơn vị có nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp luôn ổn định nên đảm bảo đƣợc toàn bộ chi phí hoạt động thƣờng xuyên, NSNN không phải cấp kinh phí cho hoạt động thƣờng xuyên của đơn vị. - Đơn vị sự nghiệp công tự đảm bảo một phần kinh phí hoạt động thƣờng xuyên: Là những đơn vị có nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp nhƣng chƣa tự trang 18 trải toàn bộ chi phí hoạt động thƣờng xuyên, ngân sách Nhà nƣớc phải cấp một phần kinh phí cho hoạt động thƣờng xuyên của đơn vị.
- Đơn vị sự nghiệp công do Nhà nƣớc đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động: Là những đơn vị sự nghiệp có nguồn thu sự nghiệp thấp hoặc không có nguồn thu, kinh phí hoạt động thƣờng xuyên theo chức năng, nhiệm vụ do ngân sách Nhà nƣớc đảm bảo toàn bộ kinh phí hoạt động. Đặc điểm cơ chế tài chính trong đơn vị sự nghiệp công lập. Đặc điểm hoạt động Đơn vị SNCL bao gồm nhiều hoạt động trong nhiều lĩnh vực với các chức năng và nhiệm vụ khác nhau. Nhƣng các đơn vị SNCL đều có chung đặc điểm sau: - Trên cơ sở hoạt động, các đơn vị SNCL không vì mục đích lợi nhuận, chú trọng đến phục vụ lợi ích cho cộng đồng - Các sản phẩm, dịch vụ trong hoạt động sự nghiệp công lập tạo ra chủ yếu là những sản phẩm, dịch vụ có giá trị về mặt giáo dục, tri thức, sức khỏe, văn hóa, đạo đức, xã hội,.
đó là các sản phẩm dịch vụ mang lợi ích chung có tính bền vững và lâu dài cho xã hội. - Các hoạt động của đơn vị SNCL luôn gắn liền và bị chi phối bởi các chƣơng trình phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nƣớc và thực tếhi mọi chính sách xã hội của Nhà nƣớc. Cơ chế quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập Cơ chế tài chính đối với các đơn vị SNCL hiện đang thực hiện theo Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 06/04/2015 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập; Thông tƣ số 113/2007/TT-BTC ngày 24/09/2007 của BTC hƣớng dẫn thực hiện Nghị định số 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập. Năm 2015, BTC đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phƣơng trình chính phủ ban hành Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập (thay thế Nghị định số 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ).
19 Nghị định 16/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 điều chỉnh cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập theo hƣớng hƣớng tăng cƣờng trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm, khuyến khích các đơn vị có điều kiện vƣơn lên tự chủ ở mức cao. So với nghị định 43/2006/NĐ-CP thì nghị định 16/2015/NĐ-CP có một số điểm nổi bật nhƣ sau: Một là, việc phân loại đơn vị sự nghiệp công lập đƣợc dựa trên mức độ tự chủ về tài chính của các đơn vị cả về chi thƣờng xuyên và chi đầu tƣ.