CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC CỬA SÔNG ĐÀ DIỄN, TỈNH PHÚ YÊN 1. Đặc điểm địa lý tự nhiên 1. Vị trí địa lý Hạ lƣu sông Ba còn đƣợc gọi là sông Đà Rằng.
Sông Ba dài 374 km, bắt nguồn từ dãy núi Ngọc Rô, tây bắc tỉnh Kon Tum, từ độ cao 1.549 mét, chảy theo hƣớng Bắc-Nam qua các huyện Kon Plông của tỉnh Kon Tum, KBang, Đắk Pơ, An Khê, Kông Chro, Ia Pa, Ayun Pa của tỉnh Gia Lai, chuyển sang hƣớng Tây Bắc-Đông Nam qua huyện Krông Pa (Gia Lai) rồi đi vào địa phận Phú Yên theo hƣớng Tây-Đông làm thành ranh giới tự nhiên giữa Sơn Hòa và Sông Hinh, giữa Sơn Hòa và Tây Hòa, giữa Tây Hòa và Phú Hòa, giữa Tây Hòa và thành phố Tuy Hòa rồi đổ ra biển Đông ở cửa biển Đà Diễn (Hình 1). Vị trí cửa Đà Diễn (Nguồn: Google Earth) Tọa độ của cửa sông Đà Diễn là khoảng 13o5‟23. Vùng cửa sông nằm ở phía Nam thành phố Tuy Hòa, giáp với huyện Đông Hòa – tỉnh Phú Yên. Đặc điểm địa hình Địa hình tỉnh Phú Yên khá phức tạp với phần diện tích đồi núi chiếm khoảng 70% diện tích toàn tỉnh.
Địa hình của tỉnh có 6 đỉnh núi cao trên 1.000 m và đỉnh cao nhất là 1. Nửa phía Tây tỉnh Phú Yên là sƣờn phía Đông của dãy Trƣờng Sơn, 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vì vậy địa hình của tỉnh thầp dần từ Tây sang Đông. Các vùng núi tƣơng đối thấp ở phía Bắc và cao ở phía Nam tỉnh. Dãy núi Chƣ Mu, Hòn Bà cao trên 1000 m, ở biên giới phía Nam tỉnh.
Thung lũng sông Ba kéo dài từ Gia Lai – Kon Tum, xuyên qua Phú Yên ra đến biển. Do vị trí địa lý và ảnh hƣởng của địa hình mà vùng hạ du lƣu vực sông Ba thƣờng xuyên chịu tác động của các yếu tố tự nhiên nhƣ mƣa, gió, sóng, bão, áp thấp nhiệt đới, phân bố bồi tích không đều … gây nên lũ lụt, bồi lấp, xói lở khu vực cửa sông. Ngoài ra, những tác động của con ngƣời nhƣ khai thác không hợp lý tài nguyên rừng, khoanh đắp các đầm nuôi hải sản, các công trình dân sinh, thủy lợi, thủy điện… làm thay đổi chế độ dòng chảy và lƣợng bùn cát từ sông đổ ra biển. Phía thƣợng nguồn rừng bị tàn phá làm suy thoái và cạn kiệt dòng chảy mùa khô ở hạ lƣu dẫn đến hậu quả môi trƣờng vùng ven biển nhƣ suy thoái hệ sinh thái, giảm nguồn lợi thuỷ sản, thay đổi vận chuyển bùn cát của sông, nhiễm mặn và suy giảm chất lƣợng nƣớc.
Đặc điểm khí tượng, thủy văn, hải văn 1. Đặc điểm khí tượng Gió Từ số liệu quan trắc tại các trạm Tuy Hoà, Miền Tây và Sơn Hòa (Phú Yên) từ năm 1987 đến năm 2007 (Bảng 1), có thể dễ dàng nhận thấy mùa đông (từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau) gió ở khu vực cửa Đà Diễn có hƣớng thịnh hành nhất là Bắc, tập trung chủ yếu vào góc từ 0 - 90o (từ Bắc đến Đông), trong mùa mƣa có tần suất 50 – 60%, sau đó là gió Đông Bắc với tần suất 30 - 45%. Vào tháng 10 và tháng 4, gió Đông Bắc thƣờng chiếm ƣu thế nhất trong các hƣớng. Tần suất (%) và hƣớng gió thịnh hành khu vực Phú Yên Tháng\Trạm Tuy Hoà Miền Tây Sơn Hoà 1 N - 63,3 NE - 60,4 E - 36,4 2 N - 51,4 NE - 57,6 E - 43,4 3 N E - 30,2 NE - 51,0 E - 42,3 4 E - 37,8 NE - 41,1 E - 35,3 5 E - 32,3 W - 35,2 W - 31,1 6 W - 45,2 W - 48,4 W - 31,1 7 W - 44,6 W - 60,6 W - 64,0 8 W - 58,5 W - 64,2 W - 63,7 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tháng\Trạm Tuy Hoà Miền Tây Sơn Hoà 9 W - 29,6 W - 51,4 W - 45,5 10 NE - 44,7 NE - 52,8 E - 28,5 11 N - 50,5 NE - 69,1 NE - 31,2 12 N - 63,8 NE - 66,0 NE - 40,3 (Nguồn: Trung tâm khí tượng thủy văn quốc gia) Từ tháng 5 đến tháng 9, gió mùa chủ yếu hƣớng Tây, tập trung vào góc từ 225o - 270o (từ Tây Nam đến Tây).
Vào tháng 5, khu vực cửa Đà Diễn chủ yếu chịu ảnh hƣởng bởi gió Đông với tần suất 32. Suốt từ tháng 6 đến tháng 9, khu vực nghiên cứu thƣờng xuyên có gió Tây với tần suất 30 - 65%, tháng 8 tần suất gió Tây lớn nhất trong năm. Từ cuối tháng 9, gió mùa Tây Nam bắt đầu bƣớc vào thời kỳ suy thoái, đồng thời cũng là thời kỳ tranh chấp của hai thứ gió mùa. Có thể nói, tháng 9 là chuyển giao giữa hai mùa gió.
Chế độ gió ở Phú Yên thể hiện hai mùa rõ rệt, từ tháng 10 đến tháng 4 là thời kỳ thịnh hành một trong ba hƣớng gió Bắc, Đông Bắc và Đông, từ tháng 5 đến tháng 9 là thời kỳ thịnh hành một trong ba hƣớng Tây, Tây Nam và Đông (Hình 2) Tốc độ gió trung bình năm dao động trong khoảng 2 - 2,5 m/s, độ chênh lệch qua từng tháng không quá 0,5 m/s. Nhìn chung các tháng mùa hè tốc độ gió trung bình lớn hơn mùa đông. Tốc độ gió trong bình lớn nhất vào tháng 5, 6 và nhỏ nhất vào tháng 12 hoặc tháng 1. Trên cao nguyên thoáng gió, tốc độ gió trung bình lớn hơn so với vùng thấp và thung lũng kín gió.[1] N N N Hs(m) Hs(m) Above 4 Hs(m) Above 4 3- 4 3- 4 Above 4 2- 3 2- 3 3- 4 1- 2 1- 2 Calm Calm Calm 2- 3 0.1 T1 T2 T3 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.00 % Hs(m) Hs(m) Hs(m) Above 4 Above 4 Above 4 3- 4 3- 4 3- 4 2- 3 2- 3 2- 3 1- 2 1- 2 1- 2 0.1 T9 T7 T8 N N N Hs(m) Hs(m) Above 4 Above 4 3- 4 3- 4 Hs(m) 2- 3 2- 3 Calm Above 4 1- 2 1- 2 Calm Calm 0.
Hoa gió tính từ số liệu gió đo tại trạm Tuy Hòa [1] Mƣa [1] a. Mưa năm Mƣa là một yếu tố chính của khí hậu, thủy văn, là một trong những thành phần của cán cân nƣớc. Phú Yên có một nền nhiệt độ cao thì mƣa là nhân tố quan trọng chi phối thời vụ, cơ cấu cây trồng, năng suất và chất lƣợng sản phẩm nông nghiệp, đặc biệt là các vùng sản xuất còn lệ thuộc vào nƣớc trời. Lƣợng mƣa trung bình nhiều năm biến đổi từ 1300mm đến 2200mm, mƣa ít nhất tại các vùng khuất gió nhƣ Cheo Reo, Phú Túc và mƣa nhiều nhất là thƣợng nguồn sông Hinh và thƣợng nguồn sông Ba.
6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Mùa mƣa trên lƣu vực sông Ba giữa khu vực Tây và Đông Trƣờng Sơn có khác nhau, ở Tây Trƣờng Sơn mùa mƣa từ tháng 5 đến tháng 10, còn Đông Trƣờng Sơn là từ tháng 9 đến tháng 12. Vì vậy dòng chảy mặt lƣu vực sông Ba là phong phú, tính đến Tuy Hòa (diện tích 13000 km2) thì tổng lƣợng nƣớc trung bình nhiều năm khoảng 9,8 tỷ m3. Vấn đề là lƣợng nƣớc này phân bố không đều trong năm tạo ra mùa mƣa ác liệt và mùa khô thiếu nƣớc. Mưa sinh lũ Đối với nƣớc ta nói chung và Phú Yên nói riêng, lũ sinh ra, chủ yếu là do mƣa rào (> 50 mm/ngày), bao trùm trên diện rộng.
Mƣa ở đây có liên quan đến sự phát triển của những nhiễu động thời tiết nhƣ: bão, dải hội tụ nhiệt đới, Front, đƣờng dứt, rãnh thấp v. Mƣa sinh lũ có lƣợng và cƣờng độ khá lớn, lƣợng mƣa ngày lớn nhất trong mùa lũ trung bình từ 190 - 300 mm, cá biệt có nơi lên tới 674 mm/ngày (sông Hinh 1981), 567 mm/ngày (Tuy Hòa 1992), 629 mm/ngày (Tuy Hòa 1993). Sông Ba là con sông có tiềm năng xảy ra lũ lớn rất cao, module đỉnh lũ lớn hơn rất nhiều so với hệ thống sông Hồng. Thời gian duy trì các trận lũ thƣờng chỉ 3-5 ngày.
Lũ có biên độ lũ cao, cƣờng suất lũ lớn, thời gian lũ lên ngắn, dạng đỉnh lũ nhọn. Đặc điểm này là do cƣờng độ mƣa lớn, tập trung nhiều đợt, tâm mƣa nằm ở trung hạ du các lƣu vực sông, độ dốc sông lớn, nƣớc tập trung nhanh. Tổng lƣợng lũ 1 ngày lớn nhất chiếm tới 40-50% tổng lƣợng của toàn trận lũ. Tại Củng Sơn, tổng lƣợng lũ 5 ngày lớn nhất đạt tới 2,51 tỷ m3 lũ vào năm 1993, tại An Khê, tổng lƣợng lũ 5 ngày đạt tới 292,8 triệu m3 lũ năm 1981.
Hạ du các sông chịu ảnh hƣởng thủy triều mạnh, một số cơn bão mạnh đã làm nƣớc dâng lên ở vùng ven biển rất lớn: Do các cửa sông Miền Trung nằm sát bờ biển nên chịu ảnh hƣởng của thủy triều lớn, nên lũ có cơ hội gặp đỉnh triều thì sẽ gây lũ lớn ở hạ du các sông. Ví dụ nhƣ các trận lũ 12/1986 trên sông Đà Rằng gặp triều cƣờng làm cho ngập sâu và lâu hơn. Do vị trí địa lý và ảnh hƣởng của địa hình mà lũ lụt vùng hạ du của lƣu vực sông Ba nằm trên địa bàn tỉnh Phú Yên xảy ra thƣờng xuyên hơn so với phần thƣợng nguồn, do chịu tác động trực tiếp mƣa lớn và lũ thƣợng nguồn lƣu vực sông Ba. Tại hạ lƣu sông Ba, các vùng đất trũng thấp ven sông và trong đồng bằng hạ du, trong đó có một số khu vực thuộc thành phố Tuy Hòa là vùng thƣờng xuyên bị ảnh hƣởng của 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ngập úng do mƣa lũ.
Theo số liệu điều tra trong những năm gần đây lũ lụt và tình hình ngập úng vùng hạ lƣu sông Ba thƣờng xuyên xảy ra hàng năm ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn. Thí dụ mƣa lũ đã gây nên tình trạng ngập úng trên diện rộng trong khu vực liên tục trong các năm 1981, 1986, 1988, 1992, 1993, 1996, 1999, 2005, 2007, 2009 gây nhiều thiệt hại. Mưa trong mùa cạn Tháng 1, lƣợng mƣa trong tỉnh chỉ chiếm tỉ lệ từ 1 - 3% lƣợng mƣa năm, mùa khô thực sự bắt đầu. Các tháng 2, 3, 4 lƣợng mƣa rất thấp, thấp nhất là tháng 2, trung bình chỉ chiếm dƣới 1% lƣợng mƣa năm.
Từ tháng 5 đến tháng 8 tuy lƣợng mƣa có tăng lên do có mƣa tiểu mãn, đôi khi gây ra lũ tiểu mãn, nhƣng vẫn chƣa vƣợt qua 100 mm/tháng, tỉ lệ mƣa tháng còn dƣới 8,3 % chƣa đủ tiêu chuẩn mùa mƣa lũ.