Tổng quan nghiên cứu

Khu vực cửa sông ven biển Hải Phòng nằm trong phạm vi tọa độ từ 20°30'39" đến 21°01'15" vĩ độ Bắc và 106°23'39" đến 107°08'39" kinh độ Đông, giữ vị trí đầu mối kinh tế - giao thương trọng điểm của vùng kinh tế phía Bắc. Với đặc thù nằm ở hạ lưu hệ thống sông Thái Bình và sông Hồng, khu vực này sở hữu mạng lưới sông ngòi dày đặc với mật độ trung bình từ 0,6 đến 0,8 km/km2, bao gồm năm cửa sông chính đổ trực tiếp ra biển: Lạch Huyện, Nam Triệu, Cấm, Lạch Tray, Văn Úc và Thái Bình. Hằng năm, hệ thống sông ngòi chuyển tải ra biển khoảng 880 tỷ m3 nước và hơn 300 triệu tấn bùn cát, biến vùng cửa biển này thành một hệ thống sinh thái nhạy cảm xen kẽ giữa các luồng hàng hải sầm uất và các khu bảo tồn thiên nhiên thế giới như Vịnh Hạ Long và Quần đảo Cát Bà.

Sự phát triển vượt bậc của công nghiệp cảng biển cùng các hoạt động dân sinh đã gia tăng sức ép ô nhiễm môi trường nước, đặc biệt là hiện tượng gia tăng hàm lượng chất rắn lơ lửng (TSS) gây vẩn đục và bồi lắng luồng tàu Cảng Hải Phòng. Đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Hải dương học của tác giả Phạm Hải An, dưới sự hướng dẫn của PGS. TS Nguyễn Thọ Sáo tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội, tập trung giải quyết bài toán mô phỏng thủy động lực và lan truyền trầm tích lơ lửng. Luận văn hướng tới hai mục tiêu cốt lõi: làm chủ công nghệ mô hình số trị ba chiều ECOMSED và tái hiện bức tranh phân bố, lan truyền trầm tích lơ lửng trong hai mùa điển hình (mùa mưa và mùa khô năm 2009). Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc nâng cao độ chính xác dự báo bồi lắng luồng lạch lên trên 85%, đồng thời cung cấp cơ sở định lượng để quản lý nguồn xả thải lục địa và bảo vệ tài nguyên sinh thái ven bờ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng tổ hợp lý thuyết thủy động lực học ba chiều phi tĩnh (3D Hydrodynamics) và lý thuyết vận chuyển vật chất trong môi trường nước biển ven bờ. Nền tảng trung tâm là mô hình thủy động lực học ECOM phát triển bởi Blumberg và Mellor (1987), tích hợp hệ phương trình chuyển động Navier-Stokes cùng phương trình bảo toàn nhiệt - muối dưới phép xấp xỉ thủy tĩnh và xấp xỉ Boussinesq. Cơ chế xáo trộn rối thẳng đứng được mô hình hóa theo lý thuyết đóng kín rối cấp 2,5 của Mellor và Yamada (1982), trong khi hệ số khuếch tán bình lưu ngang được giải theo công thức Smagorinsky.

Quá trình động lực bùn cát sử dụng mô-đun SED dựa trên các nghiên cứu kinh điển của Van Rijn (1984, 1993) kết hợp lý thuyết ngưng keo, kết bông và tái lơ lửng trầm tích kết dính của Lick (1984). Khung lý thuyết phân chia vật liệu đáy thành hai nhóm chính:

  1. Trầm tích kết dính (hạt mịn có đường kính nhỏ hơn 75 µm như bùn sét, phù sa) với tốc độ lắng đọng phụ thuộc nồng độ và khả năng keo tụ.
  2. Trầm tích không kết dính (cát mịn và cát trung có đường kính từ 75 đến 500 µm) vận chuyển chủ yếu dạng hạt rời rạc.

Mô hình sóng tham số GLERL (Schwab, 1984) được tích hợp trong hệ tọa độ cong để mô phỏng tương tác sóng - dòng chảy, xác định chính xác trường ứng suất trượt đáy phục vụ tính toán xói lở và tái lơ lửng bùn cát.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp đồng bộ giữa phương pháp thu thập, xử lý dữ liệu viễn thám, khảo sát thực địa và mô phỏng số trị trên máy tính hiệu năng cao:

  • Nguồn dữ liệu địa hình và biên hải văn: Toàn bộ đường bờ và trường độ sâu vùng nghiên cứu được số hóa chi tiết từ bản đồ địa hình UTM VN-2000 tỷ lệ 1:25.000 và 1:50.000 do Cục Đo đạc và Bản đồ xuất bản năm 2005. Vùng biển sâu ngoài khơi được tích hợp từ cơ sở dữ liệu địa hình đáy biển ETOPO và GEBCO độ phân giải 0,5 phút của Trung tâm Tư liệu Hải dương học Vương quốc Anh (BODC).
  • Quy mô mẫu và dữ liệu khí tượng thủy văn: Chuỗi số liệu khí hậu gồm nhiệt độ, mưa, bức xạ và gió quan trắc liên tục 22 năm (1990–2011) tại trạm Hải văn Hòn Dáu được xử lý thống kê. Nghiên cứu khảo sát đo đạc thực địa tại ba trạm quan trắc liên tục 24/24 giờ (ký hiệu B1, B2, B3) phân bổ dọc các luồng cửa sông chính trong hai đợt khảo sát đại diện: mùa khô (tháng 3/2009) và mùa mưa (tháng 8/2009).
  • Phương pháp phân tích và hiệu chỉnh mô hình: Lựa chọn mô hình số trị ECOMSED sử dụng hệ tọa độ cong trực giao theo phương ngang và hệ tọa độ sigma theo phương thẳng đứng (chia từ 6 đến 10 tầng nước). Mô hình được hiệu chỉnh và kiểm định chất lượng bằng cách so sánh mực nước, vận tốc dòng chảy và nồng độ TSS tính toán với số liệu đo đạc thực tế thông qua hai chỉ số thống kê chuẩn mực: sai số trung bình (BIAS) và sai số căn phương trung bình bình phương (RMSE).

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Mô phỏng trường thủy động lực và bức tranh lan truyền trầm tích lơ lửng tại vùng cửa sông ven biển Hải Phòng đã chỉ ra các quy luật động lực học quan trọng:

  1. Sự chi phối của nguồn cấp nước ngọt và bùn cát lục địa: Sông Văn Úc và sông Cấm là hai nguồn cung cấp nước ngọt lớn nhất, đóng góp trên 80% tổng lượng nước ngọt đổ vào khu vực ven biển Hải Phòng, trong khi ba cửa sông còn lại chỉ chiếm dưới 20%. Mùa mưa ghi nhận lưu lượng nước sông chiếm từ 75% đến 85% tổng lưu lượng cả năm, tạo ra lưu lượng xả lũ cực đại vào tháng 7 và tháng 8 với tỷ lệ từ 20% đến 35% tổng lượng nước năm.
  2. Biến động nồng độ TSS rõ rệt theo mùa: Vào mùa mưa, nồng độ trầm tích lơ lửng tại các cửa sông duy trì ở mức rất cao, dao động từ 300 đến 500 g/m3, cao gấp 3 đến 5 lần so với mùa khô (chỉ đạt từ 50 đến 100 g/m3). Đặc biệt, hàm lượng TSS xuất phát từ cửa sông Văn Úc và sông Thái Bình cao hơn gấp 2 đến 3 lần so với nồng độ ghi nhận tại cửa sông Bạch Đằng.
  3. Ảnh hưởng quyết định của chế độ nhật triều: Vùng biển Hải Phòng mang đặc trưng nhật triều đều điển hình với chu kỳ 25 giờ và biên độ triều lớn từ 2,0 đến 4,0 m (cực đại đạt 4,25 m tại Hòn Dáu). Dòng nhật triều chiếm ưu thế tuyệt đối, gấp từ 5 đến 20 lần dòng bán nhật triều, tạo ra vận tốc dòng chảy tầng mặt lên tới 35–42 cm/s. Khi triều rút vào mùa lũ, vệt nước đục TSS cao bị đẩy mạnh ra phía biển theo hướng Đông Nam; ngược lại khi triều dâng, quá trình ngưng keo - kết bông đưa hàm lượng TSS từ 70 đến 100 g/m3 quay trở lại bồi tụ cho hệ thống bãi triều ven bờ.
  4. Cấu trúc phân tầng nồng độ trầm tích theo phương đứng: Nồng độ TSS tầng đáy luôn cao hơn tầng mặt từ 30% đến 65% do tác động kết hợp giữa dòng chảy tầng đáy và ứng suất trượt đáy do sóng, làm tái lơ lửng các cấp hạt mịn có kích thước dưới 0,01 mm (vốn chiếm từ 10% đến 45% thành phần cơ giới bùn đáy).

Thảo luận kết quả

Các kết quả mô phỏng bằng mô hình ECOMSED phản ánh chính xác các quy luật vật lý diễn ra tại vùng cửa sông ven biển Hải Phòng. Sự tương tác phức tạp giữa dòng chảy sông mùa lũ và sóng biển mùa hè (thịnh hành hướng Đông Nam chiếm tần suất 27% với chiều cao sóng từ 0,7 đến 0,9 m) tạo ra các vùng xoáy cục bộ, kìm hãm sự phân tán bùn cát và đẩy dòng nước đục di chuyển ngược lên phía Đông Bắc hướng về đảo Cát Bà và Đồ Sơn.

Toàn bộ chuỗi dữ liệu đầu ra được trực quan hóa sinh động qua hệ thống bản đồ trường vectơ dòng chảy 2D/3D và bản đồ đường đồng mức nồng độ TSS tại các thời điểm triều đặc trưng (nước lớn, nước ròng). So sánh với các nghiên cứu trước đây sử dụng mô hình 2D trung bình độ sâu như MIKE21 hay Delft3D, mô hình 3D ECOMSED thể hiện ưu thế vượt trội trong việc bóc tách cấu trúc dòng chảy phân tầng và tái hiện chính xác hiện tượng bồi tụ đáy luồng hàng hải Nam Triệu - Lạch Huyện với độ sai lệch RMSE dưới 10%.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả mô phỏng động lực học trầm tích lơ lửng, nghiên cứu đề xuất bốn nhóm giải pháp kỹ thuật và quản lý môi trường mang tính khả thi cao:

  • Thiết lập mạng lưới quan trắc tự động: Lắp đặt hệ thống cảm biến đo đạc độ đục và dòng chảy tự động tại 5 cửa sông chính (Bạch Đằng, Cấm, Lạch Tray, Văn Úc, Thái Bình) với tần suất cập nhật dữ liệu 30 phút/lần, hoàn thành trong giai đoạn 2026–2028 dưới sự điều phối của Sở Tài nguyên và Môi trường Hải Phòng.
  • Tối ưu hóa quy trình nạo vét luồng hàng hải: Điều chỉnh lịch trình nạo vét luồng tàu vào Cảng Hải Phòng tập trung vào các tháng mùa khô (từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau) nhằm giảm thiểu 40% lượng trầm tích mịn tái lơ lửng và phát tán vào các khu bảo tồn sinh thái, do Cục Hàng hải Việt Nam và Tổng công ty Bảo đảm an toàn hàng hải miền Bắc chủ trì thực hiện.
  • Phục hồi dải đệm rừng ngập mặn: Triển khai dự án trồng mới và phục hồi 500 hecta rừng ngập mặn tại các bãi bồi ven biển Tiên Lãng, Cát Hải trong vòng 3 năm tới để tăng khả năng giữ bùn cát kết dính tự nhiên, giảm 25% tốc độ xói lở đường bờ dưới tác động của sóng gió Đông Bắc mùa đông.
  • Ứng dụng công nghệ mô hình số trị trong cấp phép dự án: Quy định bắt buộc ứng dụng mô hình 3D ECOMSED để đánh giá tác động bồi xói đáy biển với độ phân giải lưới tính dưới 50 m đối với tất cả các dự án lấn biển, xây dựng cảng nước sâu hoặc bến cảng công nghiệp tại khu vực Lạch Huyện và Nam Đồ Sơn.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo chuyên môn giá trị cho bốn nhóm độc giả trọng tâm:

  1. Cơ quan quản lý Nhà nước về Tài nguyên - Môi trường: Cán bộ Chi cục Biển và Hải đảo, Sở TN&MT thành phố Hải Phòng và tỉnh Quảng Ninh khai thác số liệu phân vùng ô nhiễm TSS và trường dòng chảy để xây dựng quy hoạch không gian biển bền vững.
  2. Doanh nghiệp khai thác cảng và bảo đảm an toàn hàng hải: Đơn vị quản lý Cảng Hải Phòng, Cảng cửa ngõ quốc tế Lạch Huyện ứng dụng thuật toán bồi lắng bùn cát để lập kế hoạch nạo vét duy tu luồng tàu, tiết kiệm từ 15% đến 20% chi phí vận hành hằng năm.
  3. Nhà khoa học, giảng viên và học viên cao học: Các nhà nghiên cứu chuyên ngành Hải dương học, Khí tượng Thủy văn, Kỹ thuật Công trình biển tại các trường đại học và viện nghiên cứu sử dụng làm tài liệu mẫu mực về thiết lập mô hình mã nguồn mở ECOMSED trên hệ tọa độ sigma.
  4. Kỹ sư tư vấn thiết kế công trình thủy: Các công ty tư vấn xây dựng đê kè, công trình chỉnh trị cửa sông tham khảo các thông số ứng suất trượt đáy và trường sóng ven bờ (biên độ triều 2,0–4,0 m, sóng cực đại 5,6 m) để tối ưu kết cấu chân công trình chống xói lở.

Câu hỏi thường gặp

1. Mô hình ECOMSED có ưu điểm gì vượt trội so với các mô hình 2D trong tính toán trầm tích cửa sông? Mô hình ECOMSED sử dụng hệ tọa độ sigma theo phương đứng, cho phép phân chia cột nước thành nhiều lớp để mô phỏng chính xác cấu trúc phân tầng mật độ, ứng suất trượt đáy và sự chênh lệch nồng độ TSS giữa tầng mặt và tầng đáy (vốn khác biệt từ 30% đến 65%), điều mà các mô hình 2D trung bình độ sâu không thể hiện được.

2. Tại sao nồng độ trầm tích lơ lửng tại Hải Phòng lại có sự chênh lệch lớn giữa mùa mưa và mùa khô? Do lưu lượng dòng chảy sông mùa mưa chiếm tới 75–85% tổng lượng cả năm, cuốn theo lượng lớn phù sa từ lưu vực sông Thái Bình và sông Hồng với nồng độ TSS từ 300 đến 500 g/m3. Trong khi đó vào mùa khô, lưu lượng nước giảm sâu chỉ còn 15–20%, khiến nồng độ TSS tại các cửa sông hạ xuống chỉ còn 50–100 g/m3.

3. Cơ chế ngưng keo - kết bông ảnh hưởng như thế nào đến bãi triều ven biển Hải Phòng? Khi các hạt trầm tích mịn kích thước dưới 75 µm từ sông gặp môi trường nước mặn có độ muối cao ngoài cửa biển, điện tích hạt keo bị trung hòa tạo thành các bông bùn lớn lắng đọng nhanh. Dưới tác động của biên độ triều 2,0–4,0 m, lượng bùn kết bông này được dòng triều dâng đưa ngược vào bồi đắp cho các bãi triều Cát Hải và Đình Vũ.

4. Yếu tố nào đóng vai trò chính trong việc khuấy đục và tái lơ lửng bùn cát đáy tại vùng biển Đồ Sơn? Yếu tố chính là tác động tương hỗ giữa sóng biển mùa hè (chiều cao 0,7–0,9 m hướng Đông Nam) và dòng chảy nhật triều có vận tốc cực đại lên tới 42 cm/s. Tổ hợp này tạo ra ứng suất trượt đáy vượt qua ngưỡng tới hạn, làm tái lơ lửng lớp trầm tích bùn sét đáy có đường kính hạt trung bình 0,01–0,05 mm.

5. Luận văn đã sử dụng chuỗi số liệu thực nghiệm nào để hiệu chỉnh và kiểm định mô hình ECOMSED? Nghiên cứu sử dụng chuỗi số liệu khí tượng thủy hải văn 22 năm (1990–2011) tại trạm Hòn Dáu, kết hợp chuỗi đo đạc đồng bộ 24/24 giờ về mực nước, dòng chảy và nồng độ TSS tại ba trạm khảo sát liên tục (B1, B2, B3) trong hai đợt mùa khô (tháng 3/2009) và mùa mưa (tháng 8/2009) để tính toán sai số RMSE và BIAS.

Kết luận

  • Ứng dụng thành công mô hình số trị ba chiều ECOMSED để tính toán đồng thời trường thủy động lực, sóng và vận chuyển bùn cát lơ lửng tại vùng cửa sông ven biển Hải Phòng.
  • Xác định rõ quy luật biến động hàm lượng TSS theo mùa, đạt đỉnh từ 300 đến 500 g/m3 trong mùa mưa và giảm xuống 50 đến 100 g/m3 trong mùa khô.
  • Chứng minh sông Văn Úc và sông Cấm là hai nguồn cung cấp nước ngọt và trầm tích chủ lực, đóng góp trên 80% tổng tải lượng ra vùng ven bờ.
  • Làm sáng tỏ cơ chế bồi lắng và xói lở đáy luồng hàng hải dưới tác động chi phối của chế độ nhật triều biên độ lớn 2,0–4,0 m kết hợp với trường sóng theo mùa.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp công nghệ và quản lý môi trường giúp giảm thiểu 40% nguy cơ lan truyền ô nhiễm từ hoạt động nạo vét cảng biển.

Trong giai đoạn tiếp theo, mô hình cần được phát triển tích hợp lưới lồng độ phân giải cao và mô-đun sinh địa hóa để mô phỏng sự lan truyền của các chất dinh dưỡng và kim loại nặng bám dính trên hạt trầm tích lơ lửng. Các đơn vị quản lý và nghiên cứu hàng hải hãy ứng dụng ngay bộ công cụ mô hình ECOMSED này vào công tác lập quy hoạch luồng tàu và bảo vệ môi trường biển bền vững.