Tổng quan nghiên cứu

Thị trường oxit kẽm toàn cầu hiện ghi nhận mức tiêu thụ vượt 1,2 triệu tấn mỗi năm, trong khi nhu cầu tại Việt Nam đạt trên 50.000 tấn mỗi năm và duy trì tốc độ tăng trưởng liên tục. Kẽm oxit là hợp chất vô cơ giữ vai trò trợ xúc tiến lưu hóa then chốt trong ngành công nghiệp cao su, gốm sứ, dược phẩm và màng phủ quang học. Về tài nguyên khoáng sản, khu vực tỉnh Bắc Kạn sở hữu tiềm năng kim loại màu rất lớn với 79 điểm mỏ chì kẽm tại Chợ Đồn và Ngân Sơn, tổng trữ lượng ước tính đạt 986.410 tấn quặng oxit cùng 60.000 tấn quặng sunfua.

Tuy nhiên, hàng trăm nghìn tấn quặng kẽm oxit hàm lượng thấp tại mỏ Bản Thi hiện vẫn bị tồn đọng và chưa có giải pháp khai thác đạt hiệu quả kinh tế. Phân tích thực tế cho thấy loại quặng nghèo này chỉ chứa khoảng 7,01% kẽm nhưng lại lẫn hàm lượng tạp chất sắt lên đến 41,80% và chì khoảng 5,77%. Việc ứng dụng phương pháp thủy luyện bằng axit vô cơ truyền thống gặp trở ngại lớn do axit hòa tan đồng thời cả sắt lẫn chì, gây tiêu hao lượng lớn hóa chất và phát sinh chi phí xử lý dung dịch vô cùng phức tạp.

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là xác lập quy trình công nghệ điều chế kẽm oxit hoạt tính chất lượng cao từ nguồn quặng nghèo Bắc Kạn bằng phương pháp thủy luyện sử dụng hệ tác nhân amoniac và amoni cacbonat. Nghiên cứu được triển khai thực nghiệm tại Viện Công nghệ Xạ hiếm và Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội. Đóng góp khoa học và giá trị thực tiễn của công trình thể hiện qua việc đạt hiệu suất thu hồi kẽm trên 80,1%, tạo ra sản phẩm kẽm oxit có diện tích bề mặt riêng vượt trội từ 15 đến 110 m2/g, đồng thời cho phép thu hồi và tái sử dụng hơn 90% lượng khí amoniac trong chu trình kín nhằm bảo vệ môi trường sinh thái.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên lý thuyết nhiệt động học phức chất kim loại chuyển tiếp và lý thuyết hòa tách chọn lọc trong thủy luyện. Kẽm là kim loại lưỡng tính có ái lực mạnh với amoniac, dễ dàng tạo thành phức chất tan tetraammine kẽm cacbonat trong dung dịch kiềm theo phản ứng nhiệt động:

ZnO + (NH4)2CO3 + 2NH4OH -> Zn(NH3)4CO3 + 3H2O

Ngược lại, các oxit tạp chất như sắt ba hydroxit và chì cacbonat hoàn toàn không tạo phức bền trong điều kiện này, bị giữ lại triệt để trong pha rắn bã thải.

Cơ sở thứ hai là lý thuyết cấu trúc tinh thể mạng lục giác Wurtzite của kẽm oxit với các hằng số mạng a = 3,243 Angstrom và c = 5,195 Angstrom. Cấu trúc tứ diện lệch của mạng tinh thể Wurtzite quy định hoạt tính xúc tác bề mặt và độ bền nhiệt của sản phẩm.

Bên cạnh đó, lý thuyết hấp phụ khí đẳng nhiệt Brunauer-Emmett-Teller được áp dụng để xác định diện tích bề mặt riêng và phân bố kích thước mao quản xốp của bột oxit kim loại. Các khái niệm cốt lõi bao gồm độ hòa tách chọn lọc kim loại, quá trình nhiệt phân muối kẽm cacbonat bazơ trung gian dạng 2ZnCO3.3Zn(OH)2.H2O, và cơ chế trợ xúc tiến lưu hóa của các hạt oxit hoạt tính trong mạng lưới cao su thiên nhiên.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng 200 gam quặng oxit thô lấy từ mỏ Bản Thi cho mỗi mẻ thực nghiệm hòa tách trong 200 mililít dung dịch. Mẫu quặng được gia công cơ học thông qua hệ thống máy nghiền bi trục ngang, sau đó sàng phân loại ngẫu nhiên thành 5 nhóm kích thước hạt từ trên 4 milimét đến dưới 0,074 milimét để khảo sát ảnh hưởng của diện tích tiếp xúc pha.

Hàm lượng kẽm và 14 tạp chất nguyên tố vi lượng được định lượng bằng phương pháp quang phổ plasma ghép nối phổ khối ICP-MS tại Trung tâm Phân tích Viện Công nghệ Xạ hiếm. Phương pháp này được lựa chọn nhờ giới hạn phát hiện siêu vết ở cấp độ miligam trên kilogam và độ lặp lại chính xác cao. Hàm lượng chì được kiểm chứng đối chứng bằng phương pháp chuẩn độ chiết Ditizon ở bước sóng hấp thụ đặc trưng.

Thành phần pha khoáng vật và độ tinh khiết tinh thể được giám định trên máy nhiễu xạ tia X Siemens D5005 phát tia Cu-Ka bước sóng 1,54056 Angstrom tại điện áp 40 kilovolt và cường độ dòng 30 miliampe. Hình thái bề mặt và kích thước hạt bột oxit được chụp qua kính hiển vi điện tử quét SEM JEOL JSM-6490. Diện tích bề mặt riêng được đo bằng thiết bị Micromeritics ASAP 2010 theo nguyên lý hấp phụ khí nitơ lỏng ở 77 Kelvin. Timeline nghiên cứu thực hiện qua các giai đoạn hòa tách gián đoạn 120 phút ở 30 đến 50 độ C, thủy phân giải phóng amoniac ở 80 độ C và nung chuyển hóa pha trong dải nhiệt độ 350 đến 700 độ C trong 120 phút.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích định lượng ICP-MS xác định quặng kẽm oxit Bắc Kạn có hàm lượng kẽm đạt 7,01%, trong khi tạp chất sắt chiếm 41,80% và chì chiếm 5,77%. Giản đồ XRD chỉ ra kẽm tồn tại ở các dạng khoáng muối Zn(ClO3)2.6H2O chiếm 18%, Na4Zn2Si3O10 chiếm 12%, hydroxit Zn(OH)2 chiếm 0,6%, còn lại 61,4% là pha vô định hình và khoáng sắt từ Fe3O4.

Khảo sát tỷ lệ rắn lỏng cho thấy tỷ lệ 200 gam quặng trên 200 mililít dung dịch mang lại hiệu quả tối ưu nhất với nồng độ kẽm đạt 69,8 gam ZnO trên lít và hiệu suất thu hồi kẽm đạt 80,1%. Khi sử dụng tỷ lệ thấp hơn là 100 gam trên 200 mililít, hiệu suất hòa tách đạt 81,0% nhưng nồng độ kẽm trong dung dịch rất loãng chỉ đạt 35,3 gam ZnO trên lít. Ngược lại, khi tăng lượng quặng lên 300 gam trên 200 mililít, hiệu suất thu hồi kẽm giảm sâu xuống còn 50,5%.

Về nồng độ dung dịch hòa tách, hệ tác nhân chứa 80 gam NH3 trên lít và 60 gam CO2 trên lít đạt hiệu suất 80,5%. Việc tăng nồng độ hóa chất lên 120 gam NH3 trên lít và 100 gam CO2 trên lít chỉ làm hiệu suất tăng nhẹ thêm 3,4% lên mức 83,9%, không mang lại hiệu quả kinh tế do thất thoát bay hơi amoniac.

Kích thước hạt quặng đóng vai trò quyết định tốc độ phản ứng. Quặng hạt mịn dưới 0,5 milimét đạt hiệu suất hòa tách 80,1% và nồng độ kẽm 69,8 gam ZnO trên lít, vượt trội hoàn toàn so với quặng thô kích thước trên 4 milimét vốn chỉ đạt hiệu suất 35,2% và nồng độ 30,7 gam ZnO trên lít, tạo ra mức chênh lệch hiệu suất lên tới 44,9%. Mẫu quặng siêu mịn dưới 0,074 milimét đạt hiệu suất 81,0% nhưng làm tăng độ nhớt bùn quặng và gây tắc nghẽn nghiêm trọng khi lọc tách bã thải.

Quá trình nung muối kẽm cacbonat bazơ ở nhiệt độ 600 đến 700 độ C trong thời gian 120 phút tạo ra sản phẩm kẽm oxit có độ sạch đạt trên 99,5%, diện tích bề mặt riêng đạt từ 45 đến 85 m2/g, cao gấp 15 đến 20 lần so với bột oxit kẽm sản xuất bằng phương pháp thăng hoa oxy hóa truyền thống chỉ đạt 3 đến 5 m2/g.

Thảo luận kết quả

Cơ chế hòa tách chọn lọc của hệ amoniac và amoni cacbonat giải thích rõ nguyên nhân kẽm tan mạnh trong khi sắt và chì bị loại bỏ triệt để. Quá trình tạo phức amoniacat bền vững giúp ion Zn2+ đi vào pha lỏng, trong khi ion Fe3+ nhanh chóng bị thủy phân thành kết tủa hydroxit lắng đọng vào bã rắn. Hiện tượng này khắc phục hoàn toàn nhược điểm của phương pháp thủy luyện axit sunfuric, vốn hòa tan hơn 90% lượng sắt gây nhiễm bẩn dung dịch muối kẽm.

Dữ liệu thực nghiệm được hệ thống hóa trực quan thông qua các bảng số liệu nồng độ và đồ thị động học hòa tách. Đồ thị biểu diễn mối quan hệ giữa thời gian phản ứng và nồng độ kẽm cho thấy tốc độ hòa tách diễn ra mãnh liệt trong 60 phút đầu tiên và đạt trạng thái cân bằng bão hòa sau 120 phút khuấy trộn ở tốc độ 80 vòng mỗi phút.

Việc gia nhiệt hòa tách lên 50 độ C có làm tăng nhẹ tốc độ khuếch tán ion nhưng đồng thời kích thích sự bay hơi tự do của khí amoniac, do đó việc duy trì nhiệt độ phòng từ 25 đến 30 độ C trong thiết bị kín là giải pháp tối ưu. Kết quả đo diện tích bề mặt riêng BET và ảnh chụp SEM khẳng định sản phẩm kẽm oxit thu được có kích thước vi tinh thể xốp đồng đều. Điều này mở ra tiềm năng ứng dụng rất lớn cho sản phẩm trong vai trò chất trợ xúc tiến hoạt tính cao, giúp giảm 30% lượng tiêu hao oxit kẽm trong các công thức phối trộn cao su kỹ thuật so với việc sử dụng oxit kẽm thương phẩm thông thường.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, triển khai xây dựng dây chuyền thủy luyện thử nghiệm bán công nghiệp quy mô 500 kilogam quặng trên một mẻ phản ứng tại Bắc Kạn. Thiết kế hệ thống thu hồi khí amoniac và cacbonic khép kín nhằm nâng tỷ lệ tái tuần hoàn hóa chất đạt trên 92% trong thời gian 12 tháng tới do Viện Công nghệ Xạ hiếm chủ trì.

Thứ hai, chuẩn hóa công đoạn gia công cơ học quặng đầu vào bằng cách lắp đặt máy nghiền bi liên hoàn kết hợp sàng rung phân cấp hạt. Duy trì kích thước hạt quặng ổn định trong khoảng từ 0,125 đến 0,5 milimét nhằm đảm bảo hiệu suất hòa tách kẽm luôn đạt trên 80% tại các nhà máy chế biến khoáng sản trong quý 3 năm 2026.

Thứ ba, tối ưu hóa quy trình nhiệt luyện thông qua việc kiểm soát dải nhiệt độ nung từ 600 đến 650 độ C trong lò nung dạng ống liên tục, thời gian lưu mẫu chính xác 120 phút. Giải pháp này giúp duy trì diện tích bề mặt riêng của bột oxit kẽm đạt trên 50 m2/g, đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe của ngành sản xuất lốp xe ôtô và cao su y tế trước năm 2027.

Thứ tư, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bắc Kạn phối hợp với Bộ Công Thương ban hành chính sách khuyến khích chuyển giao công nghệ thủy luyện xanh. Cung cấp gói hỗ trợ vốn và ưu đãi thuế tài nguyên cho các doanh nghiệp chế biến sâu nhằm tận thu triệt để hơn 500.000 tấn quặng kẽm oxit nghèo tồn đọng tại mỏ Bản Thi trong giai đoạn 2026 đến 2030.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm kỹ sư luyện kim màu và chuyên gia công nghệ hóa vô cơ: Nắm bắt các thông số vận hành chi tiết về tỷ lệ rắn lỏng 200 gam trên 200 mililít, nồng độ dung môi 80 gam NH3 trên lít, phương pháp tinh chế dung dịch và nguyên lý thu hồi muối kẽm cacbonat bazơ trung gian để ứng dụng vào thiết kế nhà xưởng.

Nhóm doanh nghiệp sản xuất săm lốp và cao su kỹ thuật: Khai thác giải pháp sử dụng kẽm oxit hoạt tính diện tích bề mặt cao từ 15 đến 110 m2/g nhằm cắt giảm 20% đến 30% định mức phụ gia oxit kẽm trong sản xuất, hạ giá thành sản phẩm và nâng cao độ bền cơ học của vật liệu đàn hồi.

Nhóm giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Hóa vô cơ, Vật liệu học: Sử dụng nguồn tư liệu phong phú về cơ chế phức chất amoniacat, các dữ liệu phân tích phổ XRD, ICP-MS, SEM và phương pháp BET làm tài liệu học thuật tham khảo phục vụ nghiên cứu tổng hợp vật liệu nano oxit kim loại.

Nhóm cán bộ quản lý tài nguyên khoáng sản và môi trường: Tham khảo mô hình công nghệ chế biến quặng nghèo chứa 7,01% kẽm để xây dựng quy hoạch khai thác bền vững, hạn chế tác động tiêu cực của nước thải axit và giải quyết bài toán lãng phí tài nguyên khoáng sản tại địa phương.

Câu hỏi thường gặp

Phương pháp hòa tách amoni có ưu điểm vượt trội gì so với phương pháp axit sunfuric khi xử lý quặng kẽm Bắc Kạn?

Quặng kẽm Bản Thi chứa lượng tạp chất sắt rất cao lên đến 41,80% và chì 5,77%. Axit sunfuric sẽ hòa tan toàn bộ các tạp chất này cùng với kẽm, gây tốn kém hóa chất tinh chế dung dịch. Phương pháp amoni hòa tan chọn lọc kẽm dưới dạng phức tetraammine tan, giữ lại toàn bộ sắt và chì trong bã thải không tan, giúp quy trình làm sạch đơn giản hơn rất nhiều.

Tại sao nồng độ tác nhân 80 gam NH3 trên lít và 60 gam CO2 trên lít lại được lựa chọn làm thông số tối ưu?

Thực nghiệm chứng minh nồng độ 80 gam NH3 trên lít và 60 gam CO2 trên lít cho hiệu suất thu hồi kẽm đạt 80,5%. Khi tăng nồng độ lên 120 gam NH3 trên lít và 100 gam CO2 trên lít, hiệu suất chỉ tăng thêm 3,4% đạt 83,9%. Sự gia tăng nhỏ này không đủ bù đắp chi phí hóa chất hao hụt do bay hơi amoniac tự do trong quá trình vận hành.

Kích thước hạt quặng ảnh hưởng cụ thể như thế nào đến hiệu suất và quy trình công nghệ?

Hạt quặng kích thước dưới 0,5 milimét cho hiệu suất hòa tách đạt 80,1%, vượt trội 44,9% so với quặng thô trên 4 milimét vốn chỉ đạt 35,2%. Tuy nhiên, việc nghiền quá mịn dưới 0,074 milimét dù đạt hiệu suất 81,0% nhưng làm bùn quặng bị bết dính, làm thời gian lọc rửa bã kéo dài gấp 3 lần và dễ gây tắc màng lọc.

Nhiệt độ nung ảnh hưởng thế nào đến diện tích bề mặt riêng và cấu trúc tinh thể của ZnO?

Quá trình nung muối kẽm cacbonat bazơ ở 600 đến 700 độ C trong 120 phút giúp phân hủy hoàn toàn gốc cacbonat, hình thành cấu trúc mạng lục giác Wurtzite đồng nhất với độ sạch trên 99,5%. Chế độ nhiệt này tạo ra các hạt xốp có diện tích bề mặt riêng đạt 45 đến 85 m2/g, mang lại hoạt tính hóa học cao gấp 10 lần oxit kẽm thương phẩm.

Sản phẩm kẽm oxit hoạt tính điều chế theo phương pháp này có thể ứng dụng trong các lĩnh vực cụ thể nào?

Nhờ diện tích bề mặt riêng vượt trội đạt từ 15 đến 110 m2/g và kích thước hạt mịn xốp đồng nhất, sản phẩm được ứng dụng làm chất trợ xúc tiến lưu hóa cao cấp trong ngành cao su y tế, săm lốp ôtô. Ngoài ra, bột oxit còn phục vụ tốt ngành sản xuất men gốm dẫn điện, phụ gia bảo quản mủ cao su, mỹ phẩm chống tia tử ngoại và dược phẩm kháng khuẩn.

Kết luận

• Đã xác định toàn diện thành phần quặng kẽm oxit mỏ Bản Thi tỉnh Bắc Kạn chứa 7,01% Zn, 41,80% Fe và 5,77% Pb, khẳng định tính khả thi của phương pháp hòa tách chọn lọc bằng hệ amoni.

• Xác lập thành công bộ thông số hòa tách tối ưu gồm tỷ lệ 200 gam quặng trên 200 mililít dung dịch, nồng độ 80 gam NH3 trên lít và 60 gam CO2 trên lít, kích thước hạt quặng dưới 0,5 milimét, đạt hiệu suất thu hồi kẽm 80,1%.

• Thu nhận thành công sản phẩm kẽm oxit chất lượng cao có cấu trúc tinh thể Wurtzite đồng nhất, độ sạch trên 99,5% và diện tích bề mặt riêng đạt từ 15 đến 110 m2/g thông qua chế độ nung phân hủy ở 600 đến 700 độ C trong 120 phút.

• Chứng minh ưu thế vượt bậc của công nghệ thủy luyện amoni trong việc giảm thiểu phát thải ô nhiễm kim loại nặng, tiết kiệm hơn 30% chi phí năng lượng và tận thu hiệu quả nguồn quặng nghèo so với công nghệ nhiệt luyện cổ điển.

• Mở ra lộ trình thử nghiệm pilot quy mô 500 kilogam trên mẻ trong vòng 12 đến 24 tháng tới, kêu gọi các doanh nghiệp luyện kim màu và sản xuất phụ gia cao su hợp tác đầu tư thương mại hóa công nghệ bền vững này.