Chương 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học về lồng ghép chức năng sinh thái môi trường với quy hoạch tổng thể phát triển KTXH 1. Lồng ghép chức năng sinh thái môi trường - Một số khái niệm + Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật. + Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường.
+ Quy hoạch bảo vệ môi trường là việc phân vùng môi trường để bảo tồn, phát triển và thiết lập hệ thống hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường gắn với hệ thống giải pháp bảo vệ môi trường trong sự liên quan chặt chẽ với quy hoạch tổng thể phát triển KTXH nhằm bảo đảm phát triển bền vững. + Đánh giá môi trường chiến lược là việc phân tích, dự báo tác động đến môi trường của chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển để đưa ra giải pháp giảm thiểu tác động bất lợi đến môi trường, làm nền tảng và được tích hợp trong chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển nhằm bảo đảm mục tiêu phát triển bền vững. + Đánh giá tác động môi trường là việc phân tích, dự báo tác động đến môi trường của dự án đầu tư cụ thể để đưa ra biện pháp bảo vệ môi trường khi triển khai dự án đó. + Lồng ghép là một quá trình tích hợp một cách có hệ thống một giá trị, ý tưởng hay một chủ đề có lựa chọn trong tất cả phạm vi của một lĩnh vực công việc hay của một hệ thống.
Việc lồng ghép là một quá trình lặp đi, lặp lại để thay đổi văn hoá và thông lệ của các thể chế (cơ quan). + Hệ sinh thái là một tổ hợp động của các quần xã thực vật, động vật và vi sinh vật và môi trường vô sinh của các quần xã đó, tương tác với nhau như một đơn 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vị chức năng. Các HST không có ranh giới cố định; thay vào đó, các thông số của các HST được đặt ra để xem xét vấn để khoa học, quản lý hoặc chính sách. Tuỳ theo mục đích phân tích, một cái hồ duy nhất, một khu vực chứa nước hoặc toàn bộ vùng, có thể là một HST.
+ Đánh giá tổng hợp HST là đánh giá điều kiện và các xu thế trong một HST; các dịch vụ mà HST đó cung cấp (như nước sạch, thức ăn, lâm sản và kiểm soát lũ); cũng như các phương án lựa chọn để phục hồi, bảo tồn hoặc tăng cường sử dụng bền vững HST đó thông qua các phương pháp nghiên cứu lồng ghép giữa khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. + Sinh thái môi trường là môn học thuộc ngành môi trường học. Nó nghiên cứu mối quan hệ tương tác không chỉ giữa các cá thể sinh vật, mà còn giữa tập thể, giữa cộng đồng với các điều kiện môi trường tự nhiên bao quanh nó. + Quy hoạch tổng thể phát triển KTXH vùng, lãnh thổ là luận chứng phát triển KTXH và tổ chức không gian các hoạt động KTXH hợp lý trên lãnh thổ nhất định trong một thời gian xác định.
- Lồng ghép chức năng sinh thái môi trường Khi nói đến chức năng cần nhận rõ chức năng là các đối tượng, hiện tượng được phát sinh, phát triển từ các đối tượng, hiện tượng có trước theo một quy luật tự nhiên nhất định và theo các mục tiêu nhất định của con người. Chức năng sinh thái của lãnh thổ sinh thái có đa chức năng mà trước hết là chức năng môi trường sống tự nhiên và nhân tạo thuộc các thành phần cấu trúc lãnh thổ. Các chức năng của nền địa chất, địa hình, đất, sinh vật, thủy văn, khí hậu đều là các chức năng môi trường sống của con người và các hệ sinh vật. Con người và sinh vật sống nhờ nền địa chất, địa hình, đất, sinh vật, nước và không khí.
Chức năng sinh thái quan trọng thứ hai là năng suất sinh học của đa dạng các loài sinh vật trong quần xã của HST. Sự chuyển hóa vật chất và năng lượng trong HST được biểu hiện bởi năng suất sinh học của quần xã trong HST. Chức năng sinh thái thứ ba có ý nghĩa cũng rất quan trọng đó là chức năng KTXH. Sự cung cấp tài nguyên của môi trường (của các thành phần cấu trúc lãnh thổ) là điều kiện rất quan trọng, có khi là chủ yếu, là cơ sở vật chất cho sự 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phát triển của xã hội loài người, cho sự phát triển các ngành kinh tế nông, lâm, ngư, công nghiệp, thương mại, du lịch… và đặc biệt là các HST, các công trình hạ tầng do con người xây dựng có ý nghĩa về mặt KTXH và thẩm mỹ.
Các chức năng KTXH là các chức năng tự nhiên và nhân tạo được sử dụng vào các mục đích phát triển KTXH và đó là cơ sở để phân loại các lãnh thổ sinh thái theo mục đích sử dụng cho sư phát triển KTXH của loài người. Chức năng thứ tư là chứa đựng, chuyển hóa các chất thải của con người thải ra trong quá trình phát triển KTXH Quy mô hoạt động của các chức năng sinh thái tự nhiên thường được trùng khớp, đồng nhất với quy mô cấu trúc lãnh thổ tự nhiên ở trong cùng cấp đó, nhưng chức năng sinh thái thuộc về KTXH có khi được xác định khác nhau trên cùng quy mô lãnh thổ hoặc có quy mô nhỏ hơn ngay trong quy mô cấu trúc của lãnh thổ tự nhiên. Theo phạm vi rộng, phát triển bền vững phụ thuộc vào việc lồng ghép thành công môi trường với quy hoạch kinh tế và ra quyết định, một quy trình được gọi là lồng ghép môi trường. Những nỗ lực ban đầu vào những năm 1990 để lồng ghép môi trường với quy hoạch quốc gia - ví dụ, thông qua các báo cáo về chiến lược giảm đói nghèo (PRSP) - nhằm đảm bảo các quyết định và kế hoạch về kinh tế phải cân nhắc đến các ưu tiên về môi trường và cũng như đề cập đến tác động của các hoạt động của con người đến các dịch vụ và tài sản môi trường.
Bằng chứng cho thấy, những cố gắng ban đầu để lồng ghép môi trường với quy hoạch quốc gia đã đạt được những thành công nhất định. Một loạt công trình đánh giá có ảnh hưởng của Ngân hàng thế giới cho thấy, hầu hết các báo cáo chiến lược giảm đói nghèo được các nước nghèo nhất thông qua trong những năm 1990, đã không nêu được đầy đủ sự đóng góp của môi trường đối với giảm đói nghèo và tăng trưởng kinh tế. Lồng ghép yêu cầu bảo vệ môi trường vào các quyết định sử dụng các nguồn lực trong hoạt động kinh tế, xã hội là cách thức bảo vệ môi trường có nguồn gốc từ yêu cầu phát triển bền vững, nguyên tắc phòng ngừa trong bảo vệ môi trường và 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nguyên tắc đảm bảo sự tham gia của cộng đồng vào các quyết định có liên quan tới môi trường. Yêu cầu phát triển bền vững đến nay được coi là một trong những giá trị phổ quát cần được đảm bảo bởi bất kỳ mô hình phát triển kinh tế nào trên thế giới.
Phát triển bền vững được Ủy ban thế giới về Môi trường và phát triển (WCED) định nghĩa là “sự phát triển nhằm đáp ứng những nhu cầu của hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau”. Yêu cầu phát triển bền vững được hiểu một cách giản lược là yêu cầu phát triển kinh tế phải đi đôi với việc bảo vệ thỏa đáng môi trường sinh thái. Điều này cũng có nghĩa rằng, mọi hoạt động kinh tế, xã hội đều phải tính đúng, tính đủ các chi phí cho việc bảo vệ môi trường. Nói cách khác, yêu cầu bảo vệ môi trường phải được tôn trọng trong mọi hoạt động kinh tế, xã hội, mọi dự án sản xuất, tiêu thụ và phát triển.
Nguyên tắc phòng ngừa đòi hỏi giảm thiểu tối đa nguy cơ sản sinh ra tác nhân làm thiệt hại đến môi trường (gây ô nhiễm, suy thoái môi trường) thay cho việc xử lý các chất gây ô nhiễm đã được sản sinh từ quá trình sản xuất, sinh hoạt của con người. Việc lồng ghép yêu cầu bảo vệ môi trường ngay từ giai đoạn ra quyết định của con người sẽ góp phần giúp cho người ra quyết định cân nhắc đầy đủ hơn lợi và hại từ quyết định của mình, tính tới các lợi ích môi trường để từ đó có ứng xử phù hợp theo hướng giảm thiểu các hành vi gây hại cho môi trường. Nguyên tắc đảm bảo sự tham gia của cộng đồng vào quá trình ra các quyết định quan trọng liên quan tới môi trường đòi hỏi bất cứ khi nào một chủ thể có các quyết định có thể ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường nơi một cộng đồng dân cư đang sinh sống thì đều phải có sự tham vấn ý kiến hợp lý của cộng đồng dân cư đó. Nguyên tắc này xuất phát từ thực tế vấn đề môi trường về cơ bản là vấn đề của cộng đồng dân cư.
Các ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường nói chung chính là các ảnh hưởng tiêu cực tới sức khỏe, tài sản và các lợi ích khác của cộng đồng dân cư. Sự tham gia của cộng đồng vào các quá trình ra quyết định liên quan tới môi trường chính là một biện pháp đảm bảo sự hài hòa về lợi ích của các chủ thể có liên quan 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đồng thời góp phần ngăn ngừa các xung đột, tranh chấp không đáng có trong tương lai. Như vậy, lồng ghép yêu cầu bảo vệ môi trường vào các loại quyết định trong cuộc sống của con người phải được coi là một hệ quả tự nhiên của yêu cầu phát triển bền vững và đáp ứng nguyên tắc phòng ngừa trong việc bảo vệ môi trường và nguyên tắc đảm bảo sự tham gia của cộng đồng vào quá trình bảo vệ môi trường. Lồng ghép chức năng sinh thái môi trường với quy hoạch tổng thể phát triển KTXH cũng không phải là một ngoại lệ.