Tổng quan nghiên cứu

Dải ven biển tỉnh Bình Thuận sở hữu chiều dài 192 km kéo dài từ mũi Đá Chẹt (xã Vĩnh Tân, huyện Tuy Phong) giáp Cà Ná đến cửa suối Đu Đủ (xã Tân Thắng, huyện Hàm Tân) giáp ranh Bà Rịa - Vũng Tàu. Với phạm vi nghiên cứu mở rộng 5 km tính từ mép nước vào sâu trong đất liền, khu vực này lưu giữ một hệ thống tài nguyên địa mạo vô cùng độc đáo, phân hóa đa dạng từ các cao nguyên cát đỏ, đồi cát di động, bãi cuội phân bậc cho đến các bề mặt mài mòn đá magma cổ.

Trong bối cảnh kinh tế địa phương tăng trưởng nhanh chóng, ngành du lịch Bình Thuận trong 9 tháng đầu năm 2014 đã đón hơn 2,77 triệu lượt khách du lịch, mang lại doanh thu dịch vụ ước đạt trên 4.800 tỷ đồng. Tuy nhiên, sự phát triển nóng này đang tạo ra những áp lực môi trường nặng nề và xung đột lợi ích sử dụng không gian gay gắt. Điển hình là mâu thuẫn giữa việc bảo tồn cảnh quan cồn cát phục vụ du lịch và hoạt động khai thác sa khoáng titan-zircon trong tầng cát đỏ với trữ lượng ước tính lên đến 558 triệu tấn. Thêm vào đó, dải ven bờ thường xuyên chịu ảnh hưởng của các tai biến tự nhiên như xói lở bờ biển, cát bay, cát chảy và tác động của nước biển dâng.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý Tài nguyên và Môi trường của tác giả Hoàng Thị Thúy, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Vũ Văn Phái tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội (năm 2014), đã giải quyết căn cơ bài toán đánh giá tiềm năng địa mạo dải ven biển Bình Thuận. Nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học và bộ tiêu chí bán định lượng để định vị giá trị của các di chỉ địa mạo, làm tiền đề phân vùng chức năng, hỗ trợ đắc lực cho công tác quy hoạch du lịch bền vững và quản lý tổng hợp đới bờ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết hệ thống và mô hình tương tác địa mạo - xã hội của Mario Panizza (1996) làm nền tảng cốt lõi. Theo trường phái này, địa hình không chỉ đơn thuần là cấu trúc vật thể mà trở thành tài sản và tài nguyên địa mạo khi đáp ứng các nhu cầu thiết thực của con người qua 4 thuộc tính cơ bản: giá trị khoa học, giá trị văn hóa - lịch sử, giá trị kinh tế - xã hội và giá trị cảnh quan thẩm mỹ. Trong đó, giá trị khoa học được xem xét qua 4 tiêu chí: mô hình tiến hóa địa mạo, giá trị giáo dục, mẫu hình cổ địa mạo và vai trò trụ cột của hệ sinh thái.

Bên cạnh đó, tác giả tích hợp lý thuyết đánh giá di chỉ địa mạo (geomorphosites) được chuẩn hóa bởi Reynard (2004, 2009) và Ielenicz (2009). Di chỉ địa mạo được phân định thành hai nhóm chính: di chỉ tích cực (nơi các quá trình động lực hiện đại đang diễn ra mạnh mẽ như bãi biển vỗ sóng, thung lũng sườn bóc mòn) và di chỉ thụ động (các dạng địa hình cổ lưu giữ ký ức địa chất của Trái Đất). Nghiên cứu cũng kế thừa định nghĩa đa dạng địa học của Murray Gray (2004) và các quy định quản lý tài nguyên du lịch theo Pháp lệnh Du lịch Việt Nam năm 1999 nhằm xác lập mối quan hệ thứ bậc giữa cảnh quan, địa hình, kiểu đá và trầm tích.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu đa tầng gồm bản đồ địa hình tỷ lệ 1:50.000 hệ tọa độ VN2000, bản đồ địa chất - khoáng sản tỷ lệ 1:200.000, ảnh vệ tinh viễn thám kết hợp số liệu khí tượng - hải văn nhiều năm từ các trạm quan trắc địa phương.

Về phương pháp thu thập dữ liệu thực tế, tác giả đã thiết lập tuyến khảo sát thực địa với cỡ mẫu gồm 10 điểm trạm tọa độ đại diện phân bố trải dài suốt 192 km đường bờ biển Bình Thuận. Phương pháp chọn mẫu mục tiêu (purposive sampling) được áp dụng nhằm bao phủ toàn bộ các dạng cấu trúc địa mạo đặc thù: từ các mũi nhô đá magma phức hệ Đèo Cả và Cà Ná (mũi Kê Gà, La Gan), khối đá trầm tích phun trào hệ tầng Nha Trang (Hòn Rơm, Mũi Né), vách bóc mòn cát đỏ hệ tầng Phan Thiết đến các đới cồn cát di động tại Bàu Trắng và Đồi Hồng.

Quy trình phân tích kết hợp phương pháp trắc lượng hình thái, phân tích ảnh viễn thám trên hệ thống thông tin địa lý (GIS) và phương pháp đánh giá bán định lượng của Ielenicz (2009). Lý do lựa chọn phương pháp bán định lượng là nhằm chuyển hóa các cảm nhận thẩm mỹ và nhận thức khoa học định tính thành các thang điểm số cụ thể (từ 0 đến 2 điểm cho mỗi chỉ tiêu). Việc lượng hóa này cho phép xây dựng ma trận đánh giá khách quan, xếp hạng thứ bậc ưu tiên cho từng điểm di chỉ địa mạo phục vụ công tác quy hoạch phát triển không gian du lịch.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã xác lập bản đồ địa mạo chi tiết dải ven biển Bình Thuận với 6 nhóm nguồn gốc địa hình chủ đạo: địa hình nguồn gốc bóc mòn sườn (pediment hóa), địa hình dòng chảy, địa hình hỗn hợp sông - biển, địa hình do gió (eolian), địa hình nguồn gốc biển và địa hình đới sóng vỗ bờ.

Các phát hiện nổi bật về tiềm năng di chỉ địa mạo bao gồm:

  • Hệ thống cồn cát di động đa sắc màu thể hiện chuỗi tiến hóa địa mạo 3 thế hệ rõ rệt: thế hệ phôi thai ven biển, thế hệ đang di chuyển sâu vào đất liền tại Bàu Trắng - Đồi Hồng (chiếm hơn 25% diện tích cồn cát khu vực) và thế hệ cồn cát cổ đã ngừng di động.
  • Dạng địa hình karst giả độc đáo tại thung lũng Suối Tiên hình thành do dòng chảy xâm thực và rửa trôi sâu trên nền trầm tích cát đỏ hệ tầng Phan Thiết, tạo nên các cột tháp và vách rãnh thẳng đứng kỳ vĩ.
  • Bãi tích tụ cuội bảy màu phân bậc tại mũi La Gan và các bề mặt mài mòn - tích tụ phát triển trên đá granit tuổi Creta cao từ 15 đến 20 mét tại mũi Kê Gà và trên 30 mét tại khu vực Chùa Hang (Cổ Thạch).
  • Sự suy giảm nguồn bồi tích sông ngòi tự nhiên: Toàn tỉnh có 7 hệ thống sông chính (sông Lũy dài 98 km với diện tích lưu vực 1.910 km2, sông Cái dài 71 km, sông Cà Ty dài 56 km), nhưng lưu lượng trung bình năm rất thấp chỉ từ 10 đến 15 m3/s, hàm lượng bùn cát chỉ đạt 40-50 g/m3. Nguồn cung cấp trầm tích ít ỏi khiến các bãi biển chịu áp lực bào mòn lớn dưới tác động của sóng biển mùa bão (chiều cao sóng trung bình đạt 1,2 mét vào các tháng X-XII).

Thảo luận kết quả

Cơ chế tạo tác nên cảnh quan ven biển Bình Thuận là sự tương tác phức tạp giữa chế độ kiến tạo nâng của khối vòm Đà Lạt, tính chất thạch học bền vững của đá magma xen lẫn trầm tích cát bở rời, cùng điều kiện khí hậu bán khô hạn đặc thù với lượng bốc hơi luôn vượt lượng mưa. Hoạt động của gió theo hai hướng chính gồm gió hướng Đông mùa khô (tần suất 20,62%) và gió hướng Tây mùa mưa (tần suất 20,87%) là động lực trực tiếp định hình các trường cồn cát di động.

Dữ liệu nghiên cứu được biểu diễn trực quan thông qua các sơ đồ trắc diện hình thái bãi biển, bản đồ phân bố di chỉ địa mạo và các biểu đồ đánh giá đa tiêu chí. Kết quả cho thấy các di chỉ như mũi Kê Gà, Bàu Trắng, Suối Tiên và Chùa Hang đều đạt điểm số thẩm mỹ và khoa học rất cao (trên 1,5/2,0 điểm), khẳng định vị thế tài nguyên du lịch cốt lõi của địa phương.

Tuy nhiên, thảo luận khoa học cũng chỉ ra những xung đột môi trường nghiêm trọng: hoạt động khai thác sa khoáng titan đồi cát gây tàn phá thảm thực vật, gia tăng nguy cơ vỡ hồ chứa bùn thải; đồng thời quá trình biến động bờ biển làm gia tăng xói lở tại phường Đức Long và xã Hòa Thắng, phá hủy cơ sở hạ tầng ven bờ với chiều sâu sạt lở hàng mét mỗi năm trong giai đoạn 2008-2012.

Đề xuất và khuyến nghị

  • Thiết lập hành lang bảo vệ nghiêm ngặt đối với 100% các di chỉ địa mạo có giá trị cao (gồm Bàu Trắng, Đồi Hồng, Suối Tiên, bãi cuội La Gan, mũi Kê Gà) trước năm 2016; ban hành lệnh cấm tuyệt đối các dự án khai thác titan trong phạm vi hành lang bảo vệ bờ biển 5 km tại các khu vực quy hoạch du lịch trọng điểm.
  • Triển khai đồng bộ các giải pháp công trình và phi công trình kiểm soát xói lở bờ biển: áp dụng kỹ thuật nuôi bãi nhân tạo thân thiện môi trường tại khu vực sạt lở Đức Long và Hồng Thắng, kết hợp trồng rừng cây họ phi lao và thảm thực vật cố định đụn cát ven biển nhằm giảm thiểu 60% đến 70% nguy cơ xâm thực bờ biển trước năm 2020.
  • Cơ cấu lại không gian phát triển du lịch thành 4 cụm chuyên đề dựa trên di chỉ địa mạo: Cụm du lịch địa chất - tâm linh Tuy Phong (Cổ Thạch, bãi cuội La Gan); Cụm thể thao cát và nghỉ dưỡng Bắc Bình - Phan Thiết (Bàu Trắng, Mũi Né, Suối Tiên); Cụm khám phá cảnh quan đảo và mũi nhô Hàm Thuận Nam (Hòn Bà, mũi Kê Gà); Cụm sinh thái biển Hàm Tân - La Gi.
  • Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Thuận chỉ đạo Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng hệ thống chỉ dẫn địa mạo học, bảng thông tin khoa học tại các điểm tham quan nhằm phát triển loại hình du lịch địa chất (geotourism) giáo dục cộng đồng, hoàn thành trong giai đoạn 2015-2018.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý nhà nước về môi trường và du lịch tại Bình Thuận và các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ: Sử dụng khung đánh giá bán định lượng và bản đồ phân bố di chỉ địa mạo làm cơ sở khoa học để phê duyệt quy hoạch sử dụng đất, cấp phép dự án du lịch và phân định ranh giới cấm khai thác khoáng sản.
  • Các doanh nghiệp đầu tư bất động sản nghỉ dưỡng và công ty lữ hành: Tham khảo dữ liệu trắc diện bờ biển, sức tải môi trường và đặc điểm thủy hải văn để xây dựng các sản phẩm du lịch thể thao mạo hiểm (lướt ván diều, trượt cát) và thiết kế công trình nghỉ dưỡng thích ứng với biến đổi bờ biển.
  • Các nhà khoa học, giảng viên và nghiên cứu sinh chuyên ngành Địa mạo, Quản lý tài nguyên, Địa lý du lịch: Kế thừa phương pháp luận đánh giá tài nguyên địa mạo của Panizza và Ielenicz áp dụng vào điều kiện bờ biển nhiệt đới gió mùa tại Việt Nam.
  • Sinh viên các ngành Quản lý Môi trường, Quản trị Dịch vụ Du lịch và Khoa học Trái Đất: Sử dụng làm tài liệu học tập, tham khảo thực tiễn về cấu trúc một công trình nghiên cứu khoa học đới bờ hoàn chỉnh.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao tài nguyên địa mạo lại giữ vai trò quyết định đối với ngành du lịch Bình Thuận? Địa hình ven biển Bình Thuận là nền tảng không gian vật lý và tạo nên sức hút cảnh quan khác biệt. Các dạng địa hình độc đáo như đồi cát di động Mũi Né, karst giả Suối Tiên hay mũi đá granit Kê Gà là tài nguyên tự nhiên nguyên sinh trực tiếp thu hút hơn 2,7 triệu lượt khách mỗi năm đến tham quan, nghỉ dưỡng và trải nghiệm thể thao biển.

Hoạt động khai thác titan gây ra những xung đột gì với tài nguyên địa mạo du lịch? Tầng cát đỏ chứa trữ lượng 558 triệu tấn sa khoáng titan phân bố trùng khớp với các đồi cát cảnh quan đẹp nhất tỉnh. Việc bóc tầng phủ để khai thác quặng sẽ xóa sổ hoàn toàn địa hình cồn cát tự nhiên, phá vỡ cấu trúc địa mạo tiến hóa hàng ngàn năm, đồng thời gây ô nhiễm nguồn nước ngầm và tăng nguy cơ trôi bùn cát xuống biển.

Địa hình karst giả tại Suối Tiên được hình thành theo cơ chế nào? Địa hình karst giả tại Suối Tiên không hình thành từ đá vôi mà phát triển trên khối trầm tích cát đỏ hệ tầng Phan Thiết có độ gắn kết yếu. Dưới tác động bào mòn, rửa trôi của dòng nước mặt và trọng lực sườn, các khe rãnh bị khoét sâu dần tạo nên các cột tháp cát và vách dựng đứng có hình thù kỳ vĩ tương tự địa hình karst thực thụ.

Nguyên nhân chính gây nên hiện tượng xói lở bờ biển nghiêm trọng tại Bình Thuận là gì? Hiện tượng xói lở bắt nguồn từ sự thiếu hụt bùn cát bồi tích do các sông có lưu lượng nhỏ (chỉ đạt 10-15 m3/s), kết hợp với tác động trực tiếp của trường sóng hướng Đông Bắc có chiều cao trung bình 1,2 mét trong mùa mưa bão. Tác động của con người như xây dựng kè cục bộ và phá hủy thảm thực vật ven bờ càng làm trầm trọng thêm tốc độ sạt lở.

Phương pháp đánh giá bán định lượng của Ielenicz mang lại ưu thế gì cho công tác quy hoạch? Phương pháp này giúp chuẩn hóa việc đánh giá các giá trị địa mạo thông qua hệ thống điểm số rõ ràng từ 0 đến 2 cho các tiêu chí khoa học, văn hóa, thẩm mỹ và kinh tế. Nhờ đó, các nhà quản lý có cơ sở dữ liệu số hóa tin cậy để so sánh, phân cấp mức độ ưu tiên bảo tồn và đầu tư hạ tầng du lịch một cách tối ưu.

Kết luận

  • Luận văn đã phân loại và lập bản đồ 6 nhóm nguồn gốc địa hình dải ven biển tỉnh Bình Thuận, làm sáng tỏ các quy luật tiến hóa địa mạo trong điều kiện bờ biển bán khô hạn nhiệt đới.
  • Nghiên cứu xác lập danh mục và định lượng giá trị của các di chỉ địa mạo nổi bật như đồi cát Bàu Trắng, karst giả Suối Tiên, bãi cuội La Gan và mũi mài mòn Kê Gà phục vụ quy hoạch du lịch.
  • Cung cấp luận cứ khoa học giải quyết xung đột gay gắt giữa bảo tồn cảnh quan tự nhiên phục vụ kinh tế du lịch và hoạt động khai thác sa khoáng titan trong tầng cát đỏ.
  • Đóng góp chính của công trình là xây dựng thành công bộ tiêu chí đánh giá bán định lượng tài nguyên địa mạo, đặt nền móng cho việc ứng dụng địa mạo học vào quản lý môi trường đới bờ tại Việt Nam.
  • Các cơ quan quản lý và doanh nghiệp cần sớm áp dụng sơ đồ định hướng phát triển du lịch địa chất, triển khai nuôi bãi nhân tạo và ban hành quy chế bảo tồn di chỉ địa mạo nhằm hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế biển bền vững cho tỉnh Bình Thuận giai đoạn 2015-2020.