Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam sở hữu hệ sinh thái phong phú với hơn 12.000 loài thực vật bậc cao có mạch, trong đó có khoảng 4.472 đến 5.117 loài được ghi nhận có công dụng chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe. Tại khu vực miền núi Tây Bắc, xã Sin Suối Hồ thuộc huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu là địa bàn có vị trí chiến lược với đường biên giới giáp Trung Quốc dài khoảng 4 km và tổng diện tích tự nhiên đạt 11.430,22 ha. Trong đó, diện tích đất lâm nghiệp chiếm 6.798 ha cùng tỷ lệ che phủ rừng đạt xấp xỉ 60%. Địa hình có độ cao trung bình khoảng 1.500m kết hợp nền nhiệt độ mát mẻ quanh năm từ 21 đến 23°C và lượng mưa trung bình hàng năm đạt 2.621,7 mm đã tạo điều kiện thuận lợi cho thảm dược liệu tự nhiên phát triển phong phú.

Tuy nhiên, xã Sin Suối Hồ hiện có 889 hộ dân với 98% là đồng bào dân tộc thiểu số, gồm người H'Mông chiếm 70% và người Dao chiếm 28%. Thu nhập bình quân đầu người chỉ đạt khoảng 12,5 triệu đồng mỗi năm và tỷ lệ hộ nghèo lên tới 43,87%. Đời sống phụ thuộc nặng nề vào tài nguyên rừng, dẫn đến thực trạng khai thác tận thu dược liệu quý để buôn bán thương mại qua biên giới. Hoạt động này khiến nguồn tài nguyên cây thuốc tại địa phương đứng trước nguy cơ suy kiệt nghiêm trọng.

Trước bối cảnh đó, nghiên cứu được triển khai từ tháng 9/2020 đến tháng 5/2021 nhằm đánh giá toàn diện hiện trạng các loài thực vật làm thuốc tại địa bàn. Mục tiêu trọng tâm là hệ thống hóa danh lục loài, phân tích trữ lượng, đánh giá tri thức bản địa và đề xuất giải pháp quản lý bền vững. Kết quả nghiên cứu đóng góp trực tiếp vào cơ sở dữ liệu thực vật học của tỉnh Lai Châu, đồng thời cung cấp luận cứ khoa học để bảo tồn 96 loài cây thuốc quý trước áp lực tuyệt chủng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết bảo tồn đa dạng sinh học theo Luật Đa dạng sinh học năm 2018 kết hợp khung hướng dẫn bảo tồn cây thuốc của Tổ chức Y tế Thế giới từ Tuyên ngôn Chiang Mai. Khung lý thuyết này khẳng định hiệu quả bảo vệ tài nguyên chỉ bền vững khi kết hợp đồng bộ giữa bảo tồn nguyên vị tại sinh cảnh tự nhiên và bảo tồn chuyển vị tại vườn thực vật, đi đôi với gìn giữ tri thức y học dân gian của cư dân bản địa.

Bên cạnh đó, đề tài áp dụng mô hình quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng nhằm xác định người H'Mông và người Dao là chủ thể trung tâm trong bảo vệ rừng. Bốn khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa gồm: đa dạng sinh học dược liệu, tri thức bản địa, trữ lượng khai thác an toàn và cấp độ nguy cấp theo Nghị định số 06/2019/NĐ-CP cùng Sách Đỏ Việt Nam năm 2007.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp từ Niên giám thống kê tỉnh Lai Châu năm 2019 với nguồn dữ liệu sơ cấp thực địa thu thập từ tháng 9/2020 đến tháng 3/2021.

Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 40 phiếu phỏng vấn bán cấu trúc tại 4 bản đại diện, phân bổ 10 phiếu mỗi bản theo 2 tuyến khảo sát chuyên biệt. Tuyến 1 điều tra cộng đồng người Dao tại bản Chí Sáng và bản Trung Hồ. Tuyến 2 điều tra cộng đồng người H'Mông tại bản Sin Suối Hồ và bản Sân Bay. Phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích được áp dụng nhằm tiếp cận nhóm đối tượng nắm giữ tri thức cốt lõi như già làng, trưởng bản, thầy lang, bà mế và người thường xuyên đi rừng. Lý do lựa chọn bảng hỏi bán cấu trúc là để đào sâu các kinh nghiệm trị bệnh truyền khẩu vốn không thể lượng hóa bằng khảo sát đóng thông thường.

Phương pháp hình thái so sánh kết hợp giám định mẫu vật thực địa được sử dụng để định danh danh pháp khoa học. Tác giả đối chiếu dữ liệu với bộ sách Danh lục các loài thực vật Việt Nam và tham vấn ý kiến chuyên môn từ 2 chuyên gia tại Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Lai Châu cùng Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương để chuẩn hóa tên loài.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu ghi nhận tổng cộng 96 loài thực vật được sử dụng làm thuốc tại xã Sin Suối Hồ. Trong đó, có 66 loài đã được định danh khoa học chính xác, thuộc 45 họ thực vật. Đáng chú ý, có 30 loài dược liệu bản địa được người dân địa phương sử dụng thường xuyên trong chữa bệnh nhưng chưa thể định danh tên khoa học, điển hình như củ Hùng-mảo chữa bệnh tiêu hóa, thân lá Xà-kính và Đìa-tân dùng điều trị sỏi thận.

Thứ hai, mức độ nguy cấp của tài nguyên cây thuốc tại địa bàn ở mức báo động. Đối chiếu với Sách Đỏ Việt Nam năm 2007 và Nghị định số 06/2019/NĐ-CP, khu vực có 11 loài thuộc diện cần bảo tồn ưu tiên. Trong đó, 2 loài thuộc Nhóm I nghiêm cấm khai thác vì mục đích thương mại là Tam thất hoang và Lan kim tuyến. Có 8 loài thuộc Nhóm II bị đe dọa gồm Bảy lá một hoa, Hoàng liên ô rô, Cốt toái bổ, Lan một lá, Đẳng sâm, Cẩu tích, Hoàng tinh và Hà thủ ô đỏ.

Thứ ba, trữ lượng cây thuốc có sự phân hóa sâu sắc theo môi trường sinh thái. Các loài tự nhiên có giá trị kinh tế cao tại rừng già đầu nguồn như Tam thất hoang, Lan một lá và Bách bộ đang cạn kiệt nhanh chóng với mức độ suy giảm ước tính trên 65% so với thập kỷ trước. Ngược lại, các loài cây cỏ thuộc họ Cúc, Rau răm mọc hoang dại ven đường như Cỏ hôi, Cỏ lào, Rau cúc đắng vẫn duy trì mật độ phổ biến.

Thứ tư, tiềm năng kinh tế dược liệu dưới tán rừng đã hình thành quy mô đáng ghi nhận. Địa bàn hiện có 229 ha thảo quả cho năng suất 1,5 tạ/ha, trên 70 ha sa nhân tím trồng dưới tán rừng tự nhiên và 59,45 ha cây sơn tra, mở ra tiềm năng lớn để kết hợp bảo tồn với sinh kế.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi khiến nguồn cây thuốc suy kiệt xuất phát từ sức ép đói nghèo khi tỷ lệ hộ nghèo chiếm 43,87% và tỷ lệ lao động qua đào tạo chỉ đạt 26,9%. Do hạn chế về việc làm, người dân thu hái tự phát cả rễ củ bán thô sang biên giới mà không áp dụng biện pháp tái sinh. Bên cạnh đó, tri thức trị bệnh của người Dao và người H'Mông chủ yếu truyền khẩu trong gia đình nên nguy cơ mai một rất cao khi thế hệ trẻ rời quê hương tìm việc làm.

Về phương thức biểu diễn trực quan, dữ liệu về 45 họ thực vật và 11 loài nguy cấp có thể được minh họa tối ưu qua biểu đồ tròn phân bổ họ ưu thế cùng bảng ma trận đối chiếu cấp độ bảo tồn. Cách thức hiển thị này giúp nhà quản lý nắm bắt ngay các điểm nóng suy thoái sinh học để điều phối ngân sách can thiệp kịp thời.

So sánh với các công bố trước đây trên địa bàn toàn tỉnh Lai Châu với 459 loài cây thuốc có giá trị kinh tế, số lượng 96 loài ghi nhận tại Sin Suối Hồ chiếm hơn 20% tổng số loài toàn tỉnh. Con số này khẳng định Sin Suối Hồ là trung tâm đa dạng sinh học dược liệu đặc hữu cần được ưu tiên bảo vệ đặc biệt.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện chính sách và thể chế quản lý cộng đồng. Thành lập 01 tổ hợp tác bảo tồn cây thuốc tại 4 bản trọng điểm trong giai đoạn 2021 đến 2023. Ban hành quy ước thôn bản nghiêm cấm 100% hành vi khai thác tận diệt đối với các loài Nhóm I như Tam thất hoang và Lan kim tuyến, hướng tới mục tiêu giảm 80% tình trạng khai thác trái phép. Chủ thể thực hiện: Ủy ban nhân dân xã Sin Suối Hồ phối hợp với Hạt Kiểm lâm huyện Phong Thổ.

Thứ hai, áp dụng kỹ thuật nhân giống và khoanh nuôi tái sinh. Quy hoạch 5 ha rừng tự nhiên trên độ cao 1.500m để bảo tồn nguyên vị các loài dược liệu cực kỳ nguy cấp, đồng thời xây dựng 01 vườn ươm giống bản địa quy mô 1.000 m2 trong giai đoạn 2022 đến 2024. Tổ chức tập huấn kỹ thuật thu hái bền vững cho ít nhất 250 hộ dân chuyên đi rừng. Chủ thể thực hiện: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Lai Châu phối hợp Trung tâm Dịch vụ Nông nghiệp huyện Phong Thổ.

Thứ ba, huy động nguồn vốn đầu tư và liên kết chuỗi giá trị. Lồng ghép nguồn vốn từ Chương trình Mục tiêu Quốc gia giảm nghèo bền vững để phân bổ gói tín dụng ưu đãi tối thiểu 2 tỷ đồng cho người dân mở rộng diện tích sa nhân tím và sơn tra. Ký kết hợp đồng bao tiêu sản phẩm với các doanh nghiệp dược đạt chuẩn thực hành nuôi trồng thu hái tốt. Chủ thể thực hiện: Ngân hàng Chính sách Xã hội và các Hợp tác xã dược liệu địa phương.

Thứ tư, tích hợp bảo tồn thảo dược với du lịch sinh thái văn hóa. Tận dụng điểm du lịch cộng đồng bản Sin Suối Hồ đang đón trên 19.000 lượt khách mỗi năm để phát triển các sản phẩm dịch vụ tắm lá thuốc người Dao và trà thảo mộc. Xuất bản 500 cuốn cẩm nang song ngữ giới thiệu 66 loài cây thuốc nhằm quảng bá tri thức bản địa trong giai đoạn 2023 đến 2025. Chủ thể thực hiện: Phòng Văn hóa - Thông tin huyện Phong Thổ phối hợp Đoàn Thanh niên xã.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước về môi trường và lâm nghiệp: Sở Tài nguyên và Môi trường cùng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Lai Châu có thể ứng dụng danh lục 96 loài cây thuốc và đánh giá trữ lượng để xây dựng bản đồ quy hoạch bảo tồn nguồn gen thực vật cấp tỉnh đến năm 2030.

Nhóm doanh nghiệp và hợp tác xã kinh doanh dược liệu: Các đơn vị chế biến đông dược có thể sử dụng thông tin sinh thái của 66 loài đã định danh cùng vùng trồng 70 ha sa nhân tím và 229 ha thảo quả để lập dự án đầu tư vùng nguyên liệu đạt chuẩn chất lượng cao.

Nhóm nhà khoa học, giảng viên và học viên cao học: Các viện nghiên cứu sinh thái và dược học có thể kế thừa phương pháp điều tra 40 phiếu bán cấu trúc và danh mục 30 loài cây thuốc dân gian chưa định danh để mở rộng các đề tài phân tích hoạt chất hóa học và dược lý học thực nghiệm.

Nhóm tổ chức phát triển cộng đồng và điều hành du lịch: Các tổ chức phi chính phủ và ban quản lý du lịch bản Sin Suối Hồ có thể sử dụng giải pháp liên kết du lịch với cây thuốc để hỗ trợ cải thiện sinh kế cho 43,87% hộ nghèo tại địa phương một cách thiết thực.

Câu hỏi thường gặp

Luận văn đã thống kê được bao nhiêu loài thực vật làm thuốc tại xã Sin Suối Hồ? Nghiên cứu đã ghi nhận tổng cộng 96 loài thực vật làm thuốc trên địa bàn xã. Trong đó, tác giả đã định danh khoa học chính xác cho 66 loài thuộc 45 họ thực vật khác nhau, đồng thời tổng hợp được 30 loài cây thuốc dân tộc được đồng bào sử dụng thường xuyên nhưng chưa xác định được tên khoa học.

Những loài cây thuốc nào tại địa phương đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng cao nhất? Có 11 loài dược liệu quý hiếm thuộc diện cần bảo vệ khẩn cấp. Trong đó, Tam thất hoang và Lan kim tuyến thuộc Nhóm I theo Nghị định số 06/2019/NĐ-CP nghiêm cấm khai thác thương mại. Các loài như Bảy lá một hoa, Hoàng liên ô rô, Đẳng sâm, Lan một lá và Cốt toái bổ thuộc Nhóm II cũng đang suy giảm nghiêm trọng.

Phương pháp chọn mẫu 40 phiếu khảo sát được thực hiện như thế nào để đảm bảo tính khoa học? Tác giả thực hiện khảo sát 40 phiếu bán cấu trúc tại 4 bản đại diện thuộc 2 tuyến dân tộc chính, gồm 20 phiếu cho người Dao tại bản Chí Sáng, Trung Hồ và 20 phiếu cho người H'Mông tại Sin Suối Hồ, Sân Bay. Mẫu được chọn có chủ đích tập trung vào già làng, thầy lang và người đi rừng giàu tri thức.

Thực trạng kinh tế - xã hội tại xã Sin Suối Hồ gây ra những áp lực gì đối với tài nguyên cây thuốc? Xã Sin Suối Hồ có tỷ lệ hộ nghèo lên tới 43,87% và thu nhập bình quân chỉ 12,5 triệu đồng mỗi năm. Tình trạng thiếu việc làm cùng mức sống khó khăn đã thúc đẩy người dân khai thác tận thu các loài dược liệu quý trong rừng tự nhiên để bán sang Trung Quốc, dẫn đến cạn kiệt nguồn gen quý.

Mô hình nào được đánh giá là hiệu quả nhất để vừa bảo tồn cây thuốc vừa tạo thu nhập cho người dân? Mô hình phát triển dược liệu dưới tán rừng kết hợp du lịch sinh thái cộng đồng tại bản Sin Suối Hồ, nơi đón trên 19.000 lượt khách mỗi năm, mang lại hiệu quả cao nhất. Giải pháp này giúp 889 hộ dân có thêm thu nhập từ dịch vụ tắm thuốc và bán thảo dược chế biến mà không tàn phá rừng.

Kết luận

Nghiên cứu đã đạt được 5 kết quả cốt lõi về hiện trạng và giải pháp bảo tồn tài nguyên cây thuốc tại xã Sin Suối Hồ:

  • Thiết lập hệ thống dữ liệu toàn diện với 96 loài cây thuốc, trong đó định danh khoa học thành công 66 loài thuộc 45 họ thực vật bậc cao.
  • Lưu giữ và tư liệu hóa thông tin thực vật dân tộc học của 30 loài dược liệu bản địa chưa định danh của người H'Mông và người Dao.
  • Xác định rõ danh mục 11 loài cây thuốc quý hiếm bị đe dọa theo Sách Đỏ Việt Nam và Nghị định số 06/2019/NĐ-CP để ưu tiên bảo vệ.
  • Làm rõ mối quan hệ tương hỗ giữa tỷ lệ hộ nghèo 43,87% với tập quán khai thác tận thu tài nguyên rừng của cộng đồng biên giới.
  • Xây dựng hệ thống 4 nhóm giải pháp liên hoàn kết hợp giữa kỹ thuật khoanh nuôi 5 ha rừng tự nhiên với phát triển kinh tế du lịch cộng đồng.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là cung cấp cơ sở khoa học xác thực giúp chính quyền địa phương cân bằng giữa bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển kinh tế miền núi. Trong giai đoạn 2022 đến 2025, việc khẩn trương triển khai khu vườn ươm giống 1.000 m2 và ban hành quy ước thôn bản là bước đi cấp thiết. Các cơ quan quản lý nhà nước cùng doanh nghiệp cần sớm chung tay đầu tư vốn và công nghệ để biến tiềm năng dược liệu Sin Suối Hồ thành động lực phát triển bền vững cho đồng bào vùng cao.