Tổng quan nghiên cứu

Dải ven biển Việt Nam giữ vị trí chiến lược đặc biệt với hơn 25% dân số cả nước tập trung tại các huyện duyên hải. Trong bối cảnh phát triển kinh tế biển gắn liền với bảo vệ môi trường, tỉnh Nam Định sở hữu bờ biển dài 72 km, diện tích tự nhiên đạt 166.856,52 ha cùng mật độ dân số lên tới 1.067 người/km2, đứng thứ 7 khu vực Đồng bằng sông Hồng và thứ 8 trên toàn quốc. Trong đó, huyện Hải Hậu nằm cách trung tâm thành phố Nam Định khoảng 35 km về phía Nam, giữ vai trò trọng yếu trong mạng lưới không gian kinh tế biển của tỉnh cùng hai huyện lân cận là Giao Thủy và Nghĩa Hưng, tạo nên vùng duyên hải rộng trên 720 km2, chiếm xấp xỉ 44% diện tích toàn tỉnh.

Tuy nhiên, khu vực ven biển Hải Hậu đang đối mặt với những tai biến thiên nhiên gay gắt, đặc biệt là tình trạng xói lở bờ biển và bồi tụ luồng lạch. Chế độ thủy thạch động lực phức tạp từ tương tác sông biển kết hợp với tần suất trên 50 cơn bão và áp thấp nhiệt đới giai đoạn 1990-2016 đã gây thiệt hại nghiêm trọng cho hệ thống đê kè. Tại một số vị trí xung yếu, bờ biển bị xâm thực sâu vào đất liền tới 50 m chỉ trong vòng 5 năm, xóa sổ nhiều dải rừng phòng hộ và đe dọa sinh kế dân sinh.

Trước yêu cầu cấp thiết về ứng phó biến đổi khí hậu, luận văn tập trung đánh giá toàn diện hiện trạng xói lở, bồi tụ và quy luật dịch chuyển đường bờ ven biển Hải Hậu giai đoạn từ năm 1987 đến nay. Mục tiêu nghiên cứu hướng đến việc xác định rõ cơ chế động lực hình thành tai biến và đề xuất hệ thống giải pháp khoa học công nghệ, bảo vệ hơn 260.000 cư dân địa phương và ổn định 72 km đê biển trọng yếu.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý luận Quản lý tổng hợp đới bờ (ICZM) theo hướng dẫn chuẩn quốc tế của Hội nghị Môi trường và Phát triển Rio de Janeiro, kết hợp mô hình cân bằng động lực đới bờ theo tài liệu SPM của Cơ quan Công binh Lục quân Hoa Kỳ. Theo khung lý thuyết này, dải ven biển được nhìn nhận là một thể thống nhất chịu tác động qua lại của năm quyển địa cầu, trong đó địa hình đáy và đường bờ giữ vai trò tài nguyên nền tảng quyết định sự tồn tại của hệ sinh thái ven bờ.

Luận văn phân tích ba khái niệm cốt lõi: đới bờ hoàn chỉnh (gồm dải đất ven biển và dải biển ven bờ), đường bờ danh định theo mực triều trung bình nhiều năm, và tính dễ bị tổn thương của bờ biển trước nguy cơ nước biển dâng. Về mặt phân loại động lực, khu vực nghiên cứu được xếp vào nhóm bờ biển có năng lượng sóng chiếm ưu thế kết hợp thủy triều lớn với biên độ dao động đỉnh triều từ 3,5 đến 4,0 m. Hệ thống lý thuyết cân bằng trầm tích ven bờ cũng được áp dụng nhằm lý giải hiện tượng thiếu hụt vật liệu bở rời Đệ tứ ven dải Hải Hậu khi dòng phù sa sông bị chặn giữ bởi các công trình hồ chứa nhân tạo ở thượng nguồn.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn thu thập cỡ mẫu dữ liệu gồm 35 cảnh ảnh vệ tinh viễn thám đa thời gian thuộc các hệ cảm biến Landsat (TM, ETM+, OLI) và Sentinel-2 trong giai đoạn 35 năm từ năm 1987 đến năm 2022, kết hợp chuỗi số liệu quan trắc khí tượng hải văn hơn 50 năm từ trạm Hòn Dấu, Ba Lạt, Phú Lễ và 3 hố khoan địa chất công trình sâu tới 15 m tại tuyến đê biển Hải Thịnh.

Phương pháp chọn mẫu ảnh viễn thám được tiến hành theo lát cắt thời gian định kỳ 5 năm một lần, ưu tiên thời điểm triều kiệt vào mùa đông và bổ sung các ảnh ngay trước, sau những trận bão lớn có sức gió từ cấp 10 đến cấp 12 để đánh giá biến động đột biến.

Luận văn lựa chọn phương pháp phân tích không gian trên Hệ thông tin địa lý (GIS) kết hợp công cụ phân tích đường bờ kỹ thuật số DSAS. Lý do lựa chọn tổ hợp công cụ này xuất phát từ khả năng bao quát toàn bộ 72 km dải bờ biển mà khảo sát trắc địa truyền thống không thể thực hiện liên tục về mặt thời gian, đồng thời khống chế sai số vị trí đường bờ dưới 0,5 pixel (tương đương sai số mặt đất dưới 15 m), cung cấp các chỉ số tốc độ biến động đường bờ theo thời gian thực đạt độ tin cậy khoa học cao.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích ảnh viễn thám và dữ liệu đo đạc thực tế chỉ ra bốn phát hiện nổi bật về bức tranh động lực ven biển Hải Hậu:

Thứ nhất, bờ biển Hải Hậu phân hóa thành hai xu thế trái ngược: xói lở khốc liệt chiếm ưu thế tại đoạn bờ Văn Lý đến Hải Thịnh với tốc độ giật lùi bình quân từ 5 đến 10 m/năm, thuộc cấp xói lở mạnh và rất mạnh. Trong giai đoạn 2012-2017, nhiều đoạn đê biển xung yếu bị sóng cuốn lùi sâu hơn 50 m. Ngược lại, khu vực cửa Đáy và cửa Lạch Giang có xu hướng bồi tụ cục bộ do vận chuyển bùn cát cửa sông.

Thứ hai, lượng bùn cát hạ lưu suy giảm nghiêm trọng. Kể từ khi thủy điện Hòa Bình đi vào vận hành năm 1988, tổng lượng bùn cát lơ lửng đổ ra cửa Ba Lạt và Ninh Cơ sụt giảm từ 60% đến 70% so với thời kỳ 1960-1987, làm triệt tiêu nguồn vật liệu bồi đắp tự nhiên cho bãi biển Hải Hậu.

Thứ ba, mực nước đỉnh triều cực trị tại các cửa sông có xu thế dâng cao rõ rệt. So sánh hai giai đoạn trước và sau năm 1988, mực nước cao nhất năm tại trạm Ba Lạt tăng trung bình 19 cm, trạm Phú Lễ trên sông Ninh Cơ tăng 16 cm và trạm Như Tân tăng 3 cm. Trận bão ngày 27/09/2005 đã ghi nhận mực nước lũ lịch sử đạt 264 cm tại Phú Lễ và 255 cm tại Ba Lạt, gây tràn và sạt lở đê trên diện rộng.

Thứ tư, chế độ sóng mùa hè có tần suất hướng Nam và Đông Nam chiếm tới 72% với chiều cao sóng trung bình 0,6 đến 0,8 m; trong bão, chiều cao sóng cực đại vượt ngưỡng 5,6 m, tạo nên tác động xung lực phá hủy chân các công trình bảo vệ bờ.

Thảo luận kết quả

Dữ liệu diễn biến đường bờ qua các thời kỳ có thể được trực quan hóa sinh động thông qua biểu đồ đường đa trục thể hiện tương quan giữa mức độ sụt giảm lưu lượng bùn cát thượng nguồn (triệu tấn/năm) và tốc độ thoái lui của đường mép nước (m/năm), kết hợp bảng ma trận phân vùng nguy cơ tai biến bờ biển theo cấp độ từ 1 đến 4.

Nguyên nhân căn bản gây xói lở Hải Hậu là sự kết hợp bất lợi giữa yếu tố tự nhiên và nhân tạo. Về mặt địa chất, nền đất bãi ven biển Hải Hậu chủ yếu là trầm tích Đệ tứ bở rời, với các lớp sét pha và cát bụi có sức chịu tải tiêu chuẩn rất thấp, góc ma sát trong nhỏ chỉ 4°34' và lực dính 0,019 đến 0,163 kg/cm2, rất dễ bị xói trôi khi gặp dòng chảy áp sát. Khi mất đi nguồn phù sa sông bù đắp, năng lượng sóng thịnh hành hướng Đông Nam trong mùa bão không bị tiêu hao mà trực tiếp va đập vào vách bờ dốc đứng.

Kết quả này hoàn toàn nhất quán với các công trình nghiên cứu của Viện Địa lý và Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam, khẳng định xói lở bờ biển Hải Hậu không còn là hiện tượng cục bộ mang tính chu kỳ ngắn hạn mà đã trở thành xu thế thoái lui thường xuyên dưới tác động kép của hồ chứa thượng lưu và biến đổi khí hậu toàn cầu.

Đề xuất và khuyến nghị

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, luận văn kiến nghị bốn nhóm giải pháp hành động đồng bộ:

Thứ nhất, kiên cố hóa hệ thống công trình bảo vệ bờ biển. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Nam Định cần chủ trì thực hiện giai đoạn 2023-2027, tập trung xây dựng tuyến kè mỏ hàn giảm sóng ngầm xa bờ bằng khối bê tông đúc sẵn kết hợp thảm đá hộc dọc theo 15 km dải xung yếu Văn Lý - Hải Thịnh. Mục tiêu đặt ra là tiêu hao từ 40% đến 50% năng lượng sóng ngoài khơi trước khi truyền vào chân đê chính, giữ ổn định cao trình mặt bãi.

Thứ hai, phục hồi dải đệm sinh thái tự nhiên. Ủy ban nhân dân huyện Hải Hậu phối hợp cùng Chi cục Kiểm lâm triển khai dự án trồng rừng ngập mặn phòng hộ từ năm 2023 đến năm 2030; chỉ tiêu phủ xanh tối thiểu 250 ha cây trang, bần và vẹt tại các bãi triều vùng cửa sông Lạch Giang và bãi ngang ven biển. Đai rừng này giúp giảm trên 30% vận tốc dòng chảy ven bờ và thúc đẩy lắng đọng phù sa mịn.

Thứ ba, hoàn thiện khung chính sách và thiết lập hành lang an toàn bờ biển. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Nam Định cần hoàn thành cắm mốc ranh giới hành lang bảo vệ bờ biển trước năm 2025; kiểm soát tuyệt đối 100% hoạt động khai thác cát sỏi trái phép tại lòng sông Ninh Cơ và vùng biển ven bờ nhằm chấm dứt nguy cơ gây thâm hụt cán cân bùn cát cục bộ.

Thứ tư, nâng cấp hệ thống quan trắc và chuyển đổi sinh kế bền vững. Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Đồng bằng Bắc Bộ phối hợp với chính quyền địa phương hoàn thành lắp đặt mạng lưới trạm hải văn tự động trước năm 2026; nâng độ chính xác cảnh báo triều cường và sóng bão lên trên 90%, đồng thời hỗ trợ hơn 30.000 hộ dân vùng bãi chuyển đổi mô hình kinh tế sang nuôi trồng thủy sản công nghệ cao trong đê.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị thực tiễn và học thuật phong phú, là tài liệu tham khảo cho bốn nhóm độc giả:

Nhóm cơ quan quản lý và hoạch định chính sách: Các chuyên viên thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Nam Định sẽ tìm thấy luận cứ khoa học để xây dựng quy hoạch không gian biển tích hợp, phân vùng khai thác dải 72 km bờ biển và tối ưu hóa ngân sách phòng chống thiên tai đến năm 2030.

Nhóm kỹ sư công trình thủy lợi và đê điều: Các đơn vị tư vấn thiết kế hạ tầng ven biển có thể ứng dụng bảng chỉ tiêu cơ lý đất nền với sức chịu tải từ 0,019 đến 1,5 kg/cm2 cùng thông số sóng cực đại 5,6 m để tính toán kết cấu đê kè mềm, mỏ hàn tiêu sóng bảo đảm tính bền vững công trình.

Nhóm viện nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học: Các nhà khoa học chuyên ngành Quản lý tài nguyên, Biến đổi khí hậu và Địa lý tự nhiên có thể khai thác bộ dữ liệu viễn thám 35 năm (1987-2022) như một case study thực chứng điển hình về tương tác thủy thạch động lực đồng bằng châu thổ sông Hồng.

Nhóm chính quyền địa phương và cộng đồng ven biển Hải Hậu: Lãnh đạo các xã ven biển có căn cứ xác định vùng rủi ro thiên tai cao, từ đó điều chỉnh kế hoạch di dời dân cư và định hướng bảo vệ an toàn cho hơn 500 ha diện tích đầm nuôi thủy sản ngoài đê.

Câu hỏi thường gặp

Tốc độ xói lở đường bờ biển tại huyện Hải Hậu diễn biến nghiêm trọng nhất ở khu vực nào? Khu vực chịu tác động xói lở nặng nề nhất là dải bờ biển kéo dài từ Văn Lý đến Hải Thịnh với tốc độ xâm thực trung bình từ 5 đến 10 m/năm. Trong giai đoạn 2012-2017, một số vị trí xung yếu đã ghi nhận đường bờ bị sóng biển cuốn trôi sâu hơn 50 m vào đất liền, gây sập đổ các công trình kè chắn sóng cũ.

Các hồ chứa thủy điện lớn ở thượng nguồn sông Hồng ảnh hưởng như thế nào đến xói lở bờ biển Hải Hậu? Hệ thống hồ chứa thủy điện lớn như Hòa Bình đã giữ lại lượng lớn trầm tích bở rời, khiến tổng lượng bùn cát lơ lửng đổ ra vùng cửa sông hạ lưu sụt giảm từ 60% đến 70%. Thiếu hụt phù sa bồi đắp làm bờ biển Hải Hậu mất đi lớp vật liệu bảo vệ tự nhiên, khiến năng lượng sóng đánh trực diện vào chân bãi.

Đặc trưng chế độ thủy triều và sóng biển tại vùng biển Hải Hậu có gì đặc biệt? Vùng biển Hải Hậu mang chế độ nhật triều điển hình với biên độ triều lớn từ 3,5 đến 4,0 m. Về mùa hè, sóng hướng Nam và Đông Nam chiếm tần suất xuất hiện lên tới 72% với độ cao trung bình 0,6 đến 0,8 m; khi có bão đổ bộ, chiều cao sóng cực trị có thể vượt ngưỡng 5,6 m.

Công nghệ GIS và ảnh viễn thám phát huy ưu thế gì trong nghiên cứu biến động bờ biển? Tổ hợp ảnh vệ tinh Landsat và Sentinel-2 trải dài 35 năm cho phép số hóa và trích xuất đường bờ đồng bộ trên toàn tuyến 72 km bờ biển. Phương pháp này giảm thiểu hơn 70% kinh phí đo đạc mặt đất thông thường, đồng thời kiểm soát sai số không gian dưới 15 m, mang lại độ chính xác cao.

Giải pháp bảo vệ bờ biển nào được đề xuất ưu tiên áp dụng cho dải ven biển Hải Hậu? Luận văn khuyến nghị giải pháp tích hợp công trình mỏ hàn giảm sóng ngầm xa bờ kết hợp trồng đai rừng ngập mặn phòng hộ rộng trên 200 m. Mô hình này giúp tiêu tán từ 40% đến 50% năng lượng sóng bão, đồng thời giữ lại bùn cát để bãi biển tự bồi tụ ổn định lâu dài.

Kết luận

Nghiên cứu về biến động bờ biển Hải Hậu đã tổng kết được năm nội dung cốt lõi:

  • Xây dựng thành công cơ sở dữ liệu đường bờ liên tục 35 năm (1987-2022) từ ảnh viễn thám, chỉ ra dải xói lở mạnh 5 đến 10 m/năm tại Văn Lý - Hải Thịnh.
  • Làm rõ cơ chế thâm hụt trầm tích do lượng bùn cát thượng nguồn suy giảm hơn 60% sau khi xây dựng các đập thủy điện lớn.
  • Xác lập bức tranh động lực thủy hải văn với biên độ triều đạt 3,5 đến 4,0 m cùng chiều cao sóng bão cực đại vượt mức 5,6 m.
  • Đánh giá chi tiết đặc tính cơ lý đất nền móng đê biển với sức chịu tải yếu, làm luận cứ thiết kế kỹ thuật bền vững.
  • Đề xuất đồng bộ hệ thống công trình tiêu sóng ngầm kết hợp 250 ha rừng phòng hộ ven biển nhằm giảm 40% xung lực sóng.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là cung cấp cơ sở khoa học xác đáng, phục vụ trực tiếp cho việc hoạch định chiến lược quản lý đới bờ tỉnh Nam Định giai đoạn 2023-2030. Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và địa phương cần khẩn trương áp dụng các khuyến nghị của đề tài để bảo vệ an toàn dải bờ biển và bảo đảm sinh kế bền vững cho nhân dân.