Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam được công nhận là một trong 25 quốc gia sở hữu mức độ đa dạng sinh học cao nhất trên toàn cầu, song nguồn tài nguyên thiên nhiên đang chịu sức ép to lớn từ quá trình phát triển kinh tế và gia tăng dân số. Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha thuộc địa bàn tỉnh Sơn La được thành lập năm 1986 theo Quyết định số 194/CT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, hiện có diện tích quy hoạch đạt 18.000 ha rừng đặc dụng. Nơi đây lưu giữ hệ thực vật vô cùng phong phú với 1.003 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 128 họ, trong đó ngành Ngọc lan chiếm ưu thế tuyệt đối với 848 loài, tương đương 84,55% tổng số loài của toàn hệ.

Mặc dù vậy, các loài cây thân gỗ thuộc họ Ngọc lan (Magnoliaceae) tại khu vực này đang đối mặt với nguy cơ suy thoái nghiêm trọng do áp lực khai thác lâm sản trái phép, mở rộng nương rẫy và tập quán sinh kế nghèo nàn của 5.367 hộ dân địa phương với tỷ lệ hộ nghèo bình quân lên tới 32,6%. Nhiều loài thực vật quý chỉ còn sót lại từ 1 đến 2 cá thể phân bố rải rác ngoài tự nhiên với khả năng tái sinh chồi và hạt rất thấp.

Nghiên cứu được triển khai từ tháng 8 năm 2021 đến tháng 6 năm 2022 nhằm xác định chính xác thành phần loài, phân tích các giá trị kinh tế, sinh thái, bảo tồn và làm rõ các tác nhân đe dọa quần thể họ Ngọc lan tại 5 xã thuộc khu bảo tồn. Luận văn đóng vai trò là cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc, phục vụ trực tiếp cho công tác hoạch định chính sách bảo tồn nguồn gen quý hiếm, đồng thời tạo tiền đề cải thiện sinh kế bền vững cho hơn 20.075 nhân khẩu sinh sống tại khu vực vùng đệm Xuân Nha.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng lý thuyết kinh tế tài nguyên môi trường của David Pearce nhằm lượng hóa toàn diện hai nhóm giá trị: giá trị sử dụng trực tiếp (khai thác gỗ xây dựng, dược liệu trị bệnh, tinh dầu thơm) và giá trị gián tiếp (phòng hộ đầu nguồn, điều hòa vi khí hậu, hấp thụ carbon). Đồng thời, đề tài tích hợp lý thuyết bảo tồn sinh học với hệ thống tiêu chí phân hạng nguy cấp 9 bậc của Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN 2001, 2007) dựa trên quy mô quần thể, tốc độ suy thoái số lượng cá thể và mức độ phân cắt sinh cảnh.

Về mặt phân loại học thực vật, nghiên cứu căn cứ vào hệ thống tiến hóa của bộ Ngọc lan (Magnoliales) thuộc phân nhánh thực vật hạt kín nguyên thủy, với các đặc điểm cổ xưa như đế hoa lồi kéo dài, các thành phần hoa xếp xoắn ốc và bao hoa chưa phân hóa rõ rệt thành đài và tràng. Mô hình nghiên cứu vận dụng ma trận đánh giá áp lực đa chiều của WWF nhằm phân tích tác động tổng hợp từ hoạt động dân sinh, khai thác tài nguyên và thể chế quản lý rừng. Các khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa bao gồm: bảo tồn nguyên vị (in-situ), bảo tồn chuyển vị (ex-situ), phân loại học hình thái và mức độ tổn thương nguồn gen.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập thông qua điều tra thực địa trong suốt 11 tháng và kế thừa hệ thống văn bản pháp quy như Nghị định số 160/2013/NĐ-CP, Sách Đỏ Việt Nam năm 2007 cùng Niên giám thống kê tỉnh Sơn La năm 2016. Cỡ mẫu phỏng vấn bán cấu trúc được thiết lập với 27 đối tượng chuyên sâu, bao gồm 10 hộ dân bản địa tại xã Chiềng Sơn, 5 cán bộ quản lý thuộc Ban quản lý rừng đặc dụng Xuân Nha, 10 du khách và 2 cán bộ quản lý văn hóa - xã hội cấp huyện. Phương pháp chọn mẫu kết hợp giữa chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng hộ gia đình và chọn mẫu chuyên gia có chủ đích nhằm thu thập dữ liệu xác thực về tập quán khai thác thực vật rừng.

Khảo sát thực địa được tiến hành theo các tuyến điều tra cắt ngang các đai độ cao từ 200 m đến 1.400 m so với mực nước biển, kết hợp định vị tọa độ GPS và thu thập mẫu tiêu bản thực vật học. Để xử lý các nhân tố ảnh hưởng khi thiếu chuỗi số liệu định lượng dài hạn, tác giả lựa chọn phương pháp đánh giá thang điểm trọng số 5 mức độ (từ điểm 1: không ảnh hưởng đến điểm 5: ảnh hưởng nghiêm trọng) theo khuyến nghị của IUCN và WWF. Phương pháp so sánh hình thái học đối chiếu với các công trình phân loại chuẩn quốc gia của Phạm Hoàng Hộ và Vũ Quang Nam giúp xác định danh pháp khoa học chính xác cho từng loài ghi nhận được.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực địa đã ghi nhận sự xuất hiện của 07 loài thực vật thân gỗ thuộc họ Ngọc lan (Magnoliaceae) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha, tương đương 11,67% tổng số 60 loài Ngọc lan hiện biết trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Phát hiện nổi bật nhất của đề tài là việc ghi nhận mới 03 loài lần đầu tiên được phát hiện tại tỉnh Sơn La, bao gồm: Mỡ ba vì (Magnolia conifera), Dạ hợp hoa ống (Magnolia fistulosa) và Giổi bắc bộ (Michelia tonkinensis), chiếm tỷ lệ 42,86% tổng số loài điều tra được trong khu bảo tồn.

Mật độ cá thể phân bố giữa các loài có sự phân hóa cực kỳ sâu sắc. Loài Dạ hợp hồng kông (Magnolia championii) ghi nhận số lượng lớn nhất với 22 cá thể (chiếm 64,71% tổng số 34 cá thể phát hiện được) và là loài duy nhất quan sát thấy khả năng tái sinh tự nhiên với cây con mọc rải rác dưới tán rừng ẩm. Xếp thứ hai là loài Dạ hợp hoa ống với 05 cá thể (chiếm 14,71%). Đáng báo động, 05 loài còn lại chỉ phát hiện được từ 01 đến 02 cá thể trưởng thành, tương đương tỷ lệ từ 2,94% đến 5,88% mỗi loài. Về giá trị bảo tồn nguồn gen, nghiên cứu ghi nhận loài Vàng tâm hay Dạ hợp dandy (Magnolia dandyi) thuộc phân hạng Sẽ nguy cấp (VU) trong Sách Đỏ Việt Nam năm 2007.

Thảo luận kết quả

Thực trạng suy giảm nghiêm trọng số lượng cá thể họ Ngọc lan tại Xuân Nha xuất phát từ sự cộng hưởng giữa yếu tố nội sinh và áp lực ngoại cảnh. Về mặt sinh học, các loài họ Ngọc lan có hạt chứa hàm lượng tinh dầu cao, vỏ quả hóa gỗ đóng mở chậm nên hạt dễ mất sức nảy mầm khi rơi xuống thảm mục rừng, dẫn đến tỷ lệ tái sinh tự nhiên cực kỳ thấp. Về mặt kinh tế - xã hội, đời sống của người dân bản địa phụ thuộc nặng nề vào tài nguyên rừng khi tỷ lệ hộ nghèo bình quân ở mức 32,6%, trong đó xã Chiềng Xuân ghi nhận tỷ lệ hộ nghèo lên tới 58,2%. Gỗ họ Ngọc lan mịn, thơm, không mối mọt, có giá trị thương phẩm cao từ 10 đến 90 triệu đồng/m3, khiến tình trạng khai thác trộm diễn biến phức tạp.

So với các vùng phân bố nguyên sinh tại Vườn quốc gia Tam Đảo hay vùng núi cao Hà Giang, độ phong phú loài tại Xuân Nha đạt mức trung bình khá nhưng mật độ cá thể trên một đơn vị diện tích rừng lại thấp hơn đáng kể. Các tập dữ liệu về phân bố không gian và số lượng cá thể trong nghiên cứu có thể được trực quan hóa tối ưu thông qua bản đồ tọa độ GPS kết hợp biểu đồ cột phân nhóm thể hiện tương quan số cá thể trưởng thành và tái sinh theo từng đai cao. Đồng thời, kết quả đánh giá 5 yếu tố đe dọa sinh cảnh rất phù hợp để trình bày bằng biểu đồ mạng nhện đa trục, giúp nhà quản lý nhận diện nhanh chóng các điểm nóng bị tác động bởi chuyển đổi đất nương rẫy và khai thác lâm sản.

Đề xuất và khuyến nghị

Thiết lập hệ thống giám sát và khoanh vùng bảo vệ nguyên vị (in-situ) nghiêm ngặt đối với toàn bộ 34 cá thể trưởng thành thuộc 07 loài Ngọc lan đã ghi nhận, đặc biệt ưu tiên cắm mốc ranh giới bảo vệ tuyệt đối cho loài Vàng tâm (VU) và 22 cá thể Dạ hợp hồng kông, hoàn thành mục tiêu 100% vị trí phân bố có biển cảnh báo trong 6 tháng đầu năm 2023 do Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha chủ trì.

Xây dựng vườn ươm giống thực nghiệm ex-situ với diện tích 500 m2 tại trạm kiểm lâm trung tâm, tiến hành thu hái hom cành và gieo ươm hạt giống Giổi bắc bộ và Mỡ ba vì nhằm đạt tỷ lệ nảy mầm tối thiểu 65%, cung cấp từ 3.000 đến 5.000 cây giống đạt chuẩn xuất vườn giai đoạn 2024-2026 do Ban quản lý phối hợp cùng Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật thực hiện.

Mở rộng diện tích hợp đồng khoán khoanh nuôi bảo vệ rừng từ 14.000 ha hiện nay lên 16.500 ha trước quý IV năm 2025, đồng thời giải ngân minh bạch nguồn vốn chi trả dịch vụ môi trường rừng để nâng mức hỗ trợ thu nhập thường xuyên cho 1.751 hộ nghèo tại 5 xã vùng đệm, do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Sơn La và Ủy ban nhân dân huyện Vân Hồ phê duyệt thực hiện.

Tổ chức định kỳ 10 khóa tập huấn chuyển giao kỹ thuật thu hái bền vững hạt Giổi làm gia vị và tinh dầu gắn với chuỗi liên kết giá trị, phấn đấu đạt tỷ lệ trên 80% hộ gia đình người dân tộc Thái, Mông tại xã Chiềng Xuân và Tân Xuân ký cam kết không chặt hạ cây gỗ họ Ngọc lan trước năm 2025 dưới sự điều phối của Hạt Kiểm lâm khu bảo tồn.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Ban quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên và lực lượng kiểm lâm vùng Tây Bắc: Sử dụng danh lục phân bố chi tiết kèm tọa độ GPS và thang điểm trọng số đe dọa 5 cấp độ để xây dựng phương án tuần tra chuyên trách, khoanh vùng bảo vệ sinh cảnh cho các loài thực vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng cao.

Các nhà khoa học, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Quản lý tài nguyên, Lâm học, Sinh thái học: Kế thừa dữ liệu mô tả hình thái học thực vật của 7 loài ghi nhận tại Xuân Nha và phương pháp luận tích hợp giữa đánh giá giá trị kinh tế trực tiếp với bảo tồn chuyển vị làm tài liệu giảng dạy và nghiên cứu mở rộng.

Các doanh nghiệp phát triển lâm sản ngoài gỗ, dược liệu và tinh dầu thiên nhiên: Tham khảo các phân tích về hoạt tính kháng khuẩn, hàm lượng tinh dầu hạt Giổi bắc bộ và hoa Dạ hợp nhằm lập dự án đầu tư phát triển vùng nguyên liệu trồng bán tự nhiên dưới tán rừng đặc dụng một cách bền vững.

Các tổ chức phi chính phủ về môi trường (IUCN, WWF, FFI) và cơ quan hoạch định chính sách địa phương: Khai thác số liệu về thực trạng kinh tế - xã hội của 5.367 hộ dân vùng đệm để thiết kế các can thiệp sinh kế giảm nghèo gắn liền với chỉ tiêu bảo vệ diện tích rừng tự nhiên.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao các loài thuộc họ Ngọc lan tại Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha lại đứng trước nguy cơ tuyệt chủng cao?

Quần thể họ Ngọc lan tại Xuân Nha có số lượng cá thể tự nhiên rất thấp, phần lớn chỉ ghi nhận từ 01 đến 02 cây trưởng thành và chỉ 01 loài có tái sinh. Áp lực khai thác gỗ quý có giá từ 10 đến 90 triệu đồng/m3 cùng tỷ lệ hộ nghèo vùng đệm lên tới 32,6% đã đẩy các sinh cảnh tự nhiên vào tình trạng suy thoái nghiêm trọng.

Luận văn đã ghi nhận những phát hiện mới nào về phân bố loài thực vật tại tỉnh Sơn La?

Nghiên cứu đã ghi nhận bổ sung 03 loài thuộc họ Ngọc lan lần đầu tiên xuất hiện tại địa bàn tỉnh Sơn La, bao gồm: Mỡ ba vì (Magnolia conifera), Dạ hợp hoa ống (Magnolia fistulosa) và Giổi bắc bộ (Michelia tonkinensis), đóng góp dữ liệu thực tiễn quan trọng cho hệ thực vật Việt Nam với tỷ lệ chiếm 42,86% tổng số loài tìm thấy tại khu bảo tồn.

Tác động kinh tế từ đời sống người dân vùng đệm ảnh hưởng ra sao đến sinh cảnh khu bảo tồn?

Khu bảo tồn nằm trên địa bàn 5 xã với 5.367 hộ dân, trong đó tỷ lệ hộ nghèo bình quân là 32,6%, cá biệt xã Chiềng Xuân lên tới 58,2%. Tập quán canh tác nương rẫy trồng ngô, sắn trên đất dốc và nhu cầu thu hái lâm sản kiếm sống đã trực tiếp thu hẹp sinh cảnh phân bố của các loài thực vật quý.

Giá trị kinh tế và dược liệu thực tế của các loài thuộc họ Ngọc lan tại Xuân Nha được thể hiện như thế nào?

Các loài Ngọc lan cung cấp nguồn gỗ quý thơm bền không mối mọt, hoa và hạt chứa hàm lượng tinh dầu cao có tính kháng khuẩn tự nhiên mạnh. Hạt Giổi bắc bộ được thu hái làm gia vị đắt giá và thuốc chữa ho, trong khi vỏ và rễ nhiều loài được y học cổ truyền sử dụng làm dược liệu điều trị bệnh hiệu quả.

Phương pháp nào đã được tác giả ứng dụng để lượng hóa các yếu tố đe dọa sinh thái?

Nghiên cứu ứng dụng phương pháp đánh giá theo thang điểm trọng số 5 mức độ do IUCN và WWF ban hành, kết hợp phỏng vấn sâu 27 đối tượng là cán bộ kiểm lâm và người dân. Cách tiếp cận này giúp lượng hóa khách quan 5 nhóm áp lực môi trường trong điều kiện cơ sở dữ liệu định lượng dài hạn của địa phương còn hạn chế.

Kết luận

  • Đã xác định và lập danh lục chính xác 07 loài thuộc 2 chi trong họ Ngọc lan tại Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha với tổng số 34 cá thể phân bố rải rác ngoài tự nhiên.
  • Ghi nhận mới 03 loài lần đầu tiên phát hiện tại tỉnh Sơn La, đồng thời định danh loài Vàng tâm thuộc phân hạng Sẽ nguy cấp (VU) theo Sách Đỏ Việt Nam năm 2007.
  • Làm rõ cấu trúc phân bố không đồng đều khi loài Dạ hợp hồng kông chiếm ưu thế với 22 cá thể, trong khi 05 loài còn lại chỉ tồn tại từ 01 đến 02 cá thể trưởng thành.
  • Chứng minh mối tương quan trực tiếp giữa nguy cơ suy thoái loài với áp lực sinh kế của hơn 5.367 hộ dân vùng đệm có tỷ lệ hộ nghèo bình quân 32,6%.
  • Đề xuất hệ thống 4 giải pháp đồng bộ kết hợp chặt chẽ giữa bảo tồn nguyên vị, nhân giống chuyển vị và mở rộng diện tích giao khoán 16.500 ha rừng đặc dụng.

Về lộ trình tiếp theo giai đoạn 2023-2025, các cơ quan chức năng cần ưu tiên hoàn thành cắm mốc khoanh vùng bảo vệ nghiêm ngặt 34 cá thể cây mẹ trong năm 2023, đồng thời vận hành ổn định vườn ươm 500 m2 để cung ứng tối thiểu 3.000 cây giống tái thả tự nhiên trước năm 2025. Ban quản lý khu bảo tồn, chính quyền địa phương và các viện nghiên cứu lâm nghiệp cần phối hợp hành động ngay để gìn giữ nguồn gen quý hiếm của họ Ngọc lan, kiến tạo tương lai phát triển bền vững cho hệ sinh thái rừng Tây Bắc.