MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Hơn một thập kỷ qua, ngành tôm Việt Nam đã tiến bộ vƣợt bậc, đƣa Việt Nam vào hàng ngũ các nƣớc xuất khẩu tôm lớn nhất thế giới, đem về nguồn ngoại tệ ngày càng lớn cho đất nƣớc. Theo ƣớc tính của VASEP đến năm 2019 Việt Nam có hơn 600.000 ha nuôi tôm với hai loài tôm sú và tôm trắng. Ngành tôm đóng vai trò quan trọng trong xuất khẩu thủy sản Việt Nam ra thế giới trong suốt 2 thập kỷ qua.
Hàng năm, ngành tôm đóng góp khoảng 40- 45% tổng giá trị xuất khẩu thủy sản, tƣơng đƣơng 3,5- 4 tỷ USD (Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 1, 2013). Bên cạnh với sự phát triển đó thì các trang trại nuôi tôm còn phải đối mặt với nhiều khó khăn do thiếu quy hoạch trong nuôi thâm canh lƣợng thức ăn dƣ thừa và chất hữu cơ thải ra môi trƣờng rất lớn, việc nuôi tôm với mật độ cao, trong quá trình nuôi sử dụng hóa chất để xử lý. Các hợp chất hữu cơ này kích thích sự phát triển của vi sinh vật, gây ô nhiễm ao nuôi, làm mất cân bằng hệ sinh thái (Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 1, 2013). Các kết quả nghiên cứu cho thấy 48,0 – 87,3% (N) và 75,0 – 94,0% (P) đầu vào trong các ao nuôi tôm không đƣợc hấp thụ tạo sinh khối tôm mà bị thải ra ngoài môi trƣờng thông qua thay nƣớc, xả thải khi thu hoạch, lắng đọng trong bùn đáy ao nuôi.
Nhƣ vậy, để nuôi mỗi tấn tôm sẽ thải khoảng 16,8 –157,2 kg N và 2,3 – 45,9 kg P ra môi trƣờng (Luo et al. Để giải quyết những vấn đề đó các phƣơng pháp vật lý, hóa học và sinh học, đã đƣợc sử dụng để xử lý nƣớc thải từ nuôi tôm, trong đó xử lý sinh học đƣợc coi là phƣơng pháp khả thi nhất để giải quyết những vấn đề đó (Neralla et al. Vi khuẩn tía quang hợp VKTQH Rhodobacter là chủng vi khuẩn có khả năng xử lý các chất hữu cơ tồn dƣ trong nƣớc thải hồ nuôi tôm, chúng có khả năng sinh trƣởng trong điều kiện kỵ khí bằng cách quang hợp nhƣng không thải oxy nhƣ những đối tƣợng quang dƣỡng khác. Khi đƣợc chiếu sáng, rất nhiều loài trong nhóm này có khả năng sinh trƣởng quang tự dƣỡng với CO2 làm nguồn carbon hoặc sinh trƣởng quang dị dƣỡng với các chất hữu cơ làm nguồn carbon.
Nhờ có khả năng đặc biệt về trao đổi carbon, khả năng cố định nitơ phân tử, khả năng sử dụng các hợp chất khử của lƣu huỳnh làm chất cho điện tử trong quang hợp mà chúng là những đối tƣợng đƣợc quan tâm của nhiều nhà khoa học trên thế giới. Chúng không những có giá trị trong nghiên cứu cơ bản nhƣ nghiên cứu cơ chế quang hợp, cơ chế cố định nitơ phân tử, cơ chế oxy hóa các hợp chất của lƣu huỳnh… mà chúng còn có giá trị ứng dụng trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt ứng dụng trong xử lý môi trƣờng (Đỗ Thị Liên, 2016). 2 Vì vậy nhằm góp phần khai thác tiềm năng ứng dụng của nguồn tài nguyên vi sinh vật bản địa vốn rất phong phú, có tác dụng giảm thiểu ô nhiễm và xử lý nƣớc thải hồ nuôi tôm đề tài: “Nghiên cứu tuyển chọn chủng vi khuẩn Rhodobacter sp. bản địa có khả năng xử lý chất hữu cơ” đƣợc thực hiện.
Mục tiêu đề tài Tuyển chọn đƣợc các chủng vi khuẩn Rhodobacter sp. bản địa có khả năng sinh trƣởng nhanh và hoạt tính xử lý các chất hữu cơ mạnh. Ý nghĩa khoa học Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp các dẫn liệu khoa học mới về các chủng VKTQH Rhodobacter bản địa có khả năng xử lý chất hữu cơ trong nƣớc thải ao nuôi tôm. Ý nghĩa thực tiễn Một số chủng Rhodobacter của đề tài sẽ là căn cứ khoa học cho việc ứng dụng sản xuất các chế phẩm sinh học xử lý nƣớc thải ứng dụng tại thực tiễn địa phƣơng.
Nội dung nghiên cứu - Phân lập các chủng vi khuẩn Rhodobacter sp. từ các mẫu nƣớc thải hồ nuôi tôm trên địa bàn thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam. - Nghiên cứu khả năng sinh trƣởng, đặc điểm hình thái và tuyển chọn các chủng Rhodobacter sp. có khả năng xử lý hợp chất hữu cơ.
- Nghiên cứu định danh các chủng đã phân lập thuộc chủng Rhodobacter sp. bằng phƣơng pháp PCR và xây dựng cây di truyền. - Khảo sát đƣờng cong sinh trƣởng và các nhân tố ảnh hƣởng đến sự sinh trƣởng, phát triển và khả năng xử lý chất hữu cơ của chủng Rhodobacter sp. định danh đƣợc.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái quát về chủng vi khuẩn tía quang hợp Rhodobacter sp. Giới thiệu chung về vi khuẩn quang hợp VKQH là một loại vi khuẩn có thể tiến hành tác dụng quang hợp, nó không giống nhƣ tác dụng quang hợp của thực vật. Tác dụng của quang hợp thực vật là dùng H2O để cung cấp H, dùng CO2 để cung cấp nguồn C, qua tác dụng quang hợp mà sản sinh ra chất hữu cơ và nhả oxy, còn tác dụng quang hợp của vi khuẩn quang hợp là dùng H2S để cung cấp H, dùng CO2 để cung cấp nguồn C, qua phản ứng quang hợp sản sinh ra chất hữu cơ, không thể nhả oxy.
Bao gồm: vi khuẩn lƣu huỳnh lục, vi khuẩn tía lƣu huỳnh và vi khuẩn tía không lƣu huỳnh. Lịch sử phát hiện và phân loại VKTQH Rhodobacter sp. Lịch sử phát hiện VKTQH thuộc nhóm prokaryote, là các tế bào gram âm, đơn bào, có các dạng hình cầu, xoắn, que, phẩy… đứng riêng lẻ hoặc thành chuỗi. VKTQH sinh sản bằng cách nảy chồi, một số khác sinh sản bằng cách nhân đôi.
Năm 1907, Molisch là ngƣời đầu tiên phát hiện ra các vi khuẩn có sắc tố đỏ và có khả năng quang hợp, ông đặt tên cho chúng là Rhodobacteria Molisch 1907. Gồm 2 họ là Thiorhodaceae (những vi khuẩn có khả năng hình thành giọt “S” bên trong tế bào) và Athiorhodaceae (những vi khuẩn không có khả năng hình thành giọt “S” bên trong tế bào). Sau đó 2 họ này đƣợc đổi tên là bộ Rhodospirillales và bộ Rhodospirillaceae (Nguyễn Lân Dũng et al. Phân loại Đến năm 1989 theo khóa phân loại của Bergey nhóm vi khuẩn quang hợp đƣợc chia làm 3 nhóm là: vi khuẩn quang hợp, vi khuẩn xanh quang hợp và nhóm vi khuẩn hiếu khí chứa bacteriochlorophyll (nhƣng không xếp vào hai nhóm trên).
Riêng nhóm VKTQH đƣợc chia làm ba họ là: - Họ Choromatiaceae (gồm tất cả các vi khuẩn lƣu huỳnh màu tía có khả năng hình thành giọt lƣu huỳnh bên trong tế bào). Tuy nhiên, theo hệ thống phân loại của Bergey (năm 2001) dựa vào thành phần acid béo, quinone, trình tự và kích thƣớc của cytochrome c VKTQH lại đƣợc xếp vào ba phân lớp: 4 - Alphaproteobacteria: gồm VKTQH không lƣu huỳnh và VKTQH hiếu khí. - Betaproteobacteria: cũng gồm VKTQH không lƣu huỳnh. - Gammaproteobacteria: gồm 2 họ Chromatiaceae và Ectothiorhodospriraceae.
Ban đầu chủng vi khuẩn này đƣợc phân loại dựa trên cơ sở sinh lý, đó là cơ sở có chứa hoặc không chứa sulfide của chúng. Nhóm vi khuẩn có chứa lƣu huỳnh là những loài có thể sống ở trong môi trƣờng có hàm lƣợng sulfide và trong quá trình oxy hóa sulfide lƣu huỳnh đƣợc chuyển hóa và tích lũy vào bên trong tế bào (những giọt “S” bên trong tế bào), ngƣợc lại nhóm vi khuẩn không chứa lƣu huỳnh là những loài có thể sulfide ở mức độ thấp và không chuyển hóa tích lũy lƣu huỳnh vào bên trong tế bào (không chứa giọt “S” bên trong tế bào). Chính nhờ sự khác nhau này mà có thể dễ dàng phân biệt giữa nhóm có VKTQH có lƣu huỳnh và VKTQH không lƣu huỳnh qua kính hiển vi điện tử (Bergey’s, 2001). Gần đây, sự phân loại vi khuẩn quang hợp không chỉ dựa vào các phân tích về hình thái tế bào, đặc tính sinh lý sinh hóa mà còn dựa trên các thông tin về di truyền và nguồn gốc phát sinh.
Một trong những thông tin di truyền quan trọng đƣợc sử dụng trong phân loại các vi khuẩn là thông tin về trình tự gen ADN riboxom 16S. Đây là một gen có tính bảo thủ cao trong quá trình tiến hóa của sinh vật, có kích thƣớc đủ lớn để xác định thông tin di truyền với mức độ tin cậy cao (Lakshmi et al. Hơn nữa, trình tự nucleotide của toàn bộ gen này ở nhiều vi khuẩn đã đƣợc xác định nên việc so sánh về quan hệ di truyền giữa chúng đƣợc tiến hành dễ dàng. Do đó, trong khóa phân loại của Bergey năm 1994 và hệ thống phân loại của Bergey năm 2001, mối quan hệ di truyền giữa các vi khuẩn đã đƣợc thiết lập dựa vào phân tích trình tự gen 16S rDNA.
Nhờ có thông tin về trình tự nucleotide của gen 16S - rDNA hệ thống phân loại của VKTQH cũng đã đƣợc sắp xếp ngày một hoàn thiện hơn (Đỗ Thị Liên et al. Đặc điểm về sinh thái học VKTQH là nhóm vi khuẩn quang dƣỡng, sống kỵ khí hoặc hiếu khí, đƣợc phân bố rộng rãi trong tự nhiên chúng là các vi sinh vật điển hình, rất phổ biến ở cả nƣớc ngọt lẫn nƣớc mặn, những nơi có chứa hàm lƣợng sulfua cao. Họ VKTQH không lƣu huỳnh thƣờng sinh trƣởng các ao hồ tù đọng, các vùng đầm nƣớc lợ hoặc mặn nhƣ các đáy ao nuôi trồng thủy sản, trong đất, trong các kênh mƣơng chứa nƣớc thải, trong hệ thống xử lý nƣớc thải, nơi sống của chúng thƣờng là các thủy vực có hàm lƣợng chất hữu cơ cao, hàm lƣợng oxy hòa tan thấp. Ở các độ sâu khác nhau có thể thu nhận đƣợc những loài khác nhau, ngoài ra còn có thể gặp họ vi khuẩn này ở những nơi có 5 điều kiện khắc nghiệt nhƣ những khu vực kiềm hóa hoặc các suối nƣớc nóng (Hunter et al.
Đặc điểm hình thái, sinh lí, sinh hóa VKTQH là vi khuẩn Gram âm, đơn bào, có các dạng hình cầu, xoắn, hình que ngắn, hình phẩy đứng riêng lẻ hoặc đứng thành chuỗi trong những điều kiện môi trƣờng đặc biệt. Kích thƣớc tế bào thƣờng từ 0,3 - 6 µm. Các loài vi khuẩn tía quang hợp đều sinh sản bằng cách nhân đôi, một số loài sinh sản bằng cách nảy chồi (Bergey’s, 2001). Chúng khả năng chuyển hóa năng lƣợng mặt trời thành năng lƣợng hóa học nhờ quá trình quang hợp.
VKTQH không lƣu huỳnh thƣờng có màu hồng đến màu đỏ tía, sắc tố quang hợp chính là bacteriochlorophyll a hoặc b. Cơ quan quang hợp là màng quang hợp đƣợc gắn với màng tế bào. Vi khuẩn tía quang hợp có khả năng di động bằng tiên mao mọc ở cực, một số loài thì không di động (Nguyễn Lân Dũng et al. Một số đặc điểm của vi khuẩn tía (Nguyễn Lân Dũng et al.