CHƯƠNG 1 TÔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan đất nhiễm mặn 1.1 Khái niệm đất nhiễm mặn Đất nhiễm mặn là đất có một nồng độ muối hòa tan cao hơn bình thường (1 - 1,5% hoặc hơn). Một số loại muối tan thường gặp trong đất như NaCl, Na2SO4, CaCl2, CaSO4, MgCl2, NaHCO3,. Các loại muối này thường có nguồn gốc từ lục địa, biến, sinh vật,.nhưng nguồn gốc nguyên thủy là từ các thành phần khoáng của đá núi lửa. Trong quá trình phong hóa, các muối này sau khi bị hòa tan sè di chuyển và tập trung lại ở những địa hình trũng không thoát nước.
ở Việt Nam, nguyên nhân đất nhiễm mặn thường là nhiễm mặn từ biển, nước biển đi theo các dòng nước ngầm, các đường sông xâm thực vào nội địa.Ngoài việc tích tụ trong đất do tự nhiên, muối cũng được tích tụ do việc tưới tiêu của con người trong quá trình canh tác. Nước tưới tiêu thường là nước được lấy trực tiếp từ các sông, nước này chứa một lượng lớn muối khoáng nhận được do chảy qua các vùng đất khác nhau. Vì một lý do nào đó mà lượng muối này không được cây trồng sử dụng hết, không bị rửa trôi nó sẽ tích lại và làm cho đất nhiễm mặn. Dựa vào các chỉ so EC, ESP, SAR và pH người ta phân đất thành 4 cấp độ mặn bao gồm: không mặn, ít mặn, mặn trung bình và mặn nhiều.1 Các loại đất nhiễm mặn (phân theo nồng độ) và ảnh hưởng đối với cây trồng (Kotuby-Amacher và cs, 2000) Phân loại Độ dẫn điện Nồng độ đất nhiễm cúa đất muối hòa Ảnh hưởng đến cây trồng mặn (dS/m) tan (%o) Không mặn 0-2 0-1,28 Mặn ảnh hưởng không đáng kể Mặn ít 2-4 1,28-2,56 Năng suất của nhiều loại cây có thể 3 bị giới hạn Mặn trung Năng suất cùa nhiều loại cây trồng 4-8 2,56-5,12 bình bị giới hạn Chỉ một số cây trong chịu đựng Mặn 8-16 5,12-10,24 được Rất mặn >16 >10,24 Chỉ rất ít cây trồng chịu đựng được 1.2 Tác hại của đất nhiễm mặn • Gây hạn sinh lý Đất dư thừa muối làm tăng áp suất thẩm thấu của đất.
Khi độ mặn trong đất cao đến mức sức hút nước của đất cao hon sức hút nước của rễ thì cây không thế hút nước từ đất. cấy không hấp thu được nước trong đất nhưng quá trình thoát hoi nước của lá vẫn diễn ra bình thường làm cây mất cân bằng nước gây hạn sinh lý. Nhiễm mặn gây ảnh hưởng đến sự trao đổi nước, ngừng tống hợp xytokinin, ức chế khả năng hút khoáng cùa rễ và sự vận chuyến các chất trong mạch libe,. • Kìm hãm sinh trưởng Trong đất nhiễm mặn, các loại thực vật chịu mặn kém sẽ ngừng sinh trưởng do chức năng sinh lý bị kìm hãm.
Tùy vào khả năng chống chịu và mức độ mặn mà năng suất của cây giảm nhiều hay ít, nồng độ muối càng cao thì kìm hãm sinh trưởng càng mạnh làm cây có the chết.2 Sơ lược về chu trình nitơ, quá trình cố định đạm và tổng quan vi sinh vật cố định đạm 1.1 Sơ lược về chu trình nitơ trong tự nhiên Nitơ là một chất cần thiết cho sự sống, là thành phần của protein và acid nucleic trong các tế bào động vật, thực vật và vi sinh vật. Lượng nitơ có trong không khí chiếm nhiều nhất (79%) và là nguồn dinh dưỡng có giới hạn trong môi trường nước và trong các loại đất nông nghiệp. Tuy nhiên, hầu hết các sinh vật lại không sử dụng được nếu chúng không được chuyến thành ammonia 4 Hình 1.1 Chu trình nito’ (Lê Nguyên, 2020) Chu trình nitơ bao gồm các quá trình cơ bản sau: - Cố định đạm - Đồng hóa đạm - Khoáng hóa đạm - Sự nitrate hóa - Sự khử nitrate 1.2 Quá trình co định đạm Quá trình cố định đạm xảy ra bởi các tác nhân vật lý, hóa học và sinh học. Trong đó, quá trình cố định sinh học được quan tâm nhiều nhất vì tính hiệu quả và an toàn của nó đối với môi trường.
Cố định đạm sinh học là quá trinh đồng hóa nitơ của không khí dưới tác dụng của một số vi sinh vật có khả năng sinh tong hợp enzyme nitrogenase hay nói cách khác quá trình cố định nitơ phân tử là quá trình khử N2 thành NH3 dưới xúc tác của enzyme nitrogenase khi có mặt ATP, trong đó nitrogenase được cấu tạo bởi hai phần: Fe-protein có khối lượng khoảng 6 X 104 Dal và Mo-Fe-protein có khối lượng phân từ khoảng 2,2 X 105 Dal theo sơ đo phản ứng sau: 5 Nitrogenase N2 + 6H+ + 6e ------------ > 2NH3 NH3 sè kep hợp với acid hừu cơ tạo thành protein. NH3 + Acid hữu CO’----------------- ► Amino acid ----------------- ► Protein (Lê Văn Nhương và cs, 2009) 1.3 Tổng quan về vi sinh vật cố định đạm 1.1 Quá trình cố định đạm sinh học Quá trình cố định Nitơ sinh học được 2 nhà bác học Hellriegel và Uynfac tìm ra vào năm 1886. Quá trình này thực hiện được là nhờ các vi sinh vật cố định đạm sống cộng sinh với thực vật (chủ yếu ở vùng rề) hoặc sống tự trong đất. chúng sẽ biến đổi phân tử N2 trong không khí thành NH3 theo phản ứng N2 + 3H2 —> 2NH3, trong điều kiện kỵ khí (do enzym nitrogenase rất nhạy cảm với oxy), lực khử mạnh và cần năng lượng (Nachiket s Dighe và cs, 2010) Trong tự nhiên, cố định đạm xảy ra bằng con đường sinh học có ý nghĩa hơn vì có the cung cấp một khối lượng lớn đạm đẽ tiêu cho cây trồng và môi trường đất.
Bằng con đường hóa học, lượng đạm được cố định trung bình hằng năm chỉ khoảng 7,6 triệu tấn (4 - lOkg/ha/năm), trong khi đó, bằng con đường sinh học có thể cung cấp đến khoảng 54 triệu tấn đạm trong một năm (300 - 400kg N/ha/năm) (Hartmann và Baldani, 2006) 1.2 Vi khuẩn cố định đạm Vi khuẩn cố định đạm, còn được biết đến với tên gọi là diazotrophs, có khả năng khử phân tử nitơ tự do trong không khí và trong đất mà cây trồng không hấp thu được tạo thành đạm amon NH/ dưới tác dụng của enzyme nitrogenase Hellrigel và Uynfac đã tìm ra bản chất của quá trình cố định đạm bằng cách chứng minh khả năng hấp thu nitơ khí quyển của thực vật thuộc cây họ Đậu (Fabaceae) là nhờ vi khuấn nốt sần sống ở vùng rề và đặt tên cho loài này là Bacillus radicola. Năm 1889, Pramovskii đoi tên thành Bacterium radicicola. Cuối năm 1889, Frank đề nghị đồi tên thành Rhizobium. Ke từ đó các nghiên cứu về vi 6 sinh vật cố định đạm ngày càng phổ biến và đã phát hiện thêm nhiều nhóm vi sinh vật hoạt động vùng rề khác cũng có khả năng cố định đạm.
Quá trình cố định sinh học bởi vi sinh vật mồi năm đạt khoảng 139.10° kg) là nhờ vi khuẩn tạo nốt sần cộng sinh ở cây họ Đậu (Dworkin và cs, 2006) Hầu hết các nhóm vi sinh vật có khả năng cố định đạm sống trong rề hoặc gần vùng rễ của thực vật vì đây là vị trí tiếp xúc trực tiếp với đất, tập trung nhiều chất hữu cơ, đặc biệt là các chất do rễ tiết ra. Dịch tiết ở rễ thường có tỉ lệ carbon: nitơ cao nên có khả năng dần dụ các vi khuấn cố định đạm. Các vi sinh vật này có mối quan hệ tương tác với thực vật thông qua quá trình trao đổi dinh dưỡng và có thể làm biến đổi hình thái, cấu trúc rề. Trong tất cả các vi sinh vật vùng rễ nói chung, nhóm vi khuẩn cố định đạm được xem như là những vi khuấn có khả năng kích thích tăng trưởng thực vật (PGPR - Plant growth - promoting rhizobacteria) (Foster và cs, 1983) Vi khuẩn cố định nitơ được chia thành 2 nhóm: vi khuẩn sống cộng sinh với thực vật chủ và vi khuấn sống tự do (dị dưỡng hoặc tự dưỡng).
Tuy nhiên, sự phân biệt giữa các nhóm vi khuẩn cố định đạm vần chưa được mô tả rõ ràng, vần có một số vi khuẩn được phân loại vào nhiều nhóm khác nhau (Verma và cs, 2010) Bảng 1.2 Các nhóm vi sinh vật cố định đạm chủ yếu trong tự nhiên Phương Vi khuẩn • vật Thực • chủ thức Cộng sinh Cây họ Đậu Rhizobium, Bradyrhizobium, Mesorhizobium, Sinorhizobium Thực vật Frankia Abnis, Myrỉca, khác Casuarina, Ceanothus, Comptonia 7 Tự do Hiếu khí, dị Azotobacter, Klebsiella, Beijerinckia, Mía, khóm, lúa mì, dường Azospirillum, Bacillus, Mycobacterium, lúa nước và một số Methylotrophs, Pseudomonas, thực vật khác thuộc AzospiriHum, Herbaspi ri 11um, họ Hòa bản Burkholderia, Gluconacetobacter, Enterobacter Hiếu khí, tự Cyanobacteria (Nos toe, Anabaena, dưỡng Aulosira, Cylindrospernum, Calothrix) KỊ khí, dị Clostridium spp., Desulfovibrio dưỡng Kị khí, tự Chromatiurn, chlorobium, dưỡng Rhodopseoudomonas 1.3 Các dạng lân trong đất, vòng tuần hoàn cũa lân và vi sinh vật hòa tan lân 1.1 Các dạng lân trong đất Lân là nguyên tố quan trọng trong 3 nguyên tố dinh duỡng chính của cây trồng (N, p, K). Có vai trò quan trọng trong quá trình trao đổi chất và vận chuyến các chất trong cây. Thiếu lân cây sè sinh truởng chậm, năng xuất thấp. Tuy nhiên, cây trồng sử dụng lân không quá 25%, trong khi đó một lượng lớn lân bị cố định trong đất và chuyến thành dạng khó hấp thụ (Sanders và cs, 2012).
Lượng lân trong đất khoảng 0,025 - 0,3% nhưng chúng tồn tại ở dạng không tan trong nước làm cây trồng khó hấp thụ. Lân dễ tan hay khó tan trong đất được quyết định bởi tính chất của đá mẹ, thành phần cơ giới và hàm lượng chất hữu cơ (Nguyễn Như Hà, 2005) Hàm lượng lân ở Việt Nam khoảng 0,03 - 0,2%. Đất đỏ bazan là đất giàu lân (430 - 1310 mgP/kg). Đất nghèo lân nhất là đất bạc màu và đất cát ( 44 - 240 mgP/kg).
Đất phù sa đồng bằng sông Hồng dao động trong khoảng 350 - 650 8 mgP/kg. Đồng bằng sông Cửu Long có hàm lượng lân thấp hơn (110 - 540 mgP/kg) (Hoàng Thị Thái Hòa, 2011) Đất bazan và đất phèn có sự cố dịnh lân tạo thành các hợp chat phosphate khó tan là phosphate sắt và phosphate nhôm, chiếm khoảng 90 - 95% tổng lượng phosphate trong đất, cây trồng cạn không the hấp thụ được. Phosphate canxi (trên đất chua, pH < 5 không có loại này) từ 5 - 10%, hòa tan không đáng kể, chỉ chiếm từ 0 - 5% tổng số phosphate. Vì vậy, dù trong đất có giàu lượng lân nhưng lân dễ tiêu lại rất nghèo (Võ Đình Quang, 1999).
Lân tồn tại chủ yếu ở hai dạng là lân hữu cơ và lân vô cơ. Phospho có trong thành phần của nhiều hợp chất hữu cơ của tàn tích sinh vật. Các hợp chất hữu cơ có chứa phospho gồm: phitin, axit nucleic, nucleoproteit, phosphatit, sacarophosphat,. và các vi sinh vật trong đất.
Nguyên tố này được tích lũy trong đất tầng mặt, vì vậy trong lớp tầng mặt thường chứa nhiều lân hữu cơ hơn các tầng dưới.