MỞ ĐẦU Biến đổi khí hậu (BĐKH), theo định nghĩa của Ủy ban Liên chính phủ về BĐKH (IPCC), là những thay đổi theo thời gian của khí hậu, trong đó bao gồm cả những biến đổi tự nhiên và những biến đổi do các hoạt động của con ngƣời gây ra. BĐKH xuất phát từ sự thay đổi cán cân năng lƣợng của trái đất do thay đổi nồng độ các khí nhà kính, nồng độ bụi trong khí quyển, thảm phủ và lƣợng bức xạ mặt trời. Hiện nay, chúng ta đang phải sống trong một thế giới có nhiều biến đổi lớn về khí hậu: nhiệt độ trái đất đang nóng dần, mực nƣớc biển đang dâng lên, dân số tăng nhanh ở nhiều quốc gia, sự xâm nhập của các loài ngoại lai ngày càng nhiều, các sinh cảnh đang bị thu hẹp lại và phân cách nhau, sức ép của công nghiệp hóa và toàn cầu hóa ngày càng lớn, trao đổi thông tin giữa các lĩnh vực ngày càng đƣợc mở rộng. Tất cả những thay đổi đó đang ảnh hƣởng lớn đến công cuộc phát triển của tất cả các nƣớc trên thế giới, trong đó có việc làm cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm môi trƣờng và gây ra những thay đổi lớn trong sự sinh trƣởng, phát triển của các loài động thực vật trong tự nhiên.
Để phát triển bền vững trong nông lâm nghiệp và phát triển nông thôn, chúng ta cần đặc biệt lƣu ý đến vấn đề BĐKH và những ảnh hƣởng của nó tới dân sinh, kinh tế và xã hội, phải xem tác động của BĐKH toàn cầu là một nhân tố cấu thành trong chiến lƣợc phát triển để có những biện pháp kịp thời thích nghi và làm giảm bớt những tổn thất to lớn gây ra do BĐKH mà các nhà khoa học đã cảnh báo trong các Báo cáo của IPCC và lần gần đây nhất là Báo cáo lần thứ tƣ của IPCC. Việt Nam là nƣớc có bờ biển dài trên 3200 km và đƣợc dự báo là một trong các quốc gia có thể bị tác động mạnh do BĐKH, đặc biệt là vùng ven biển. Đánh giá tác động của BĐKH đối với lĩnh vực lâm nghiệp, đặc biệt là các hệ sinh thái rừng là một việc rất phức tạp và rất mới mẻ ở nhiều quốc gia và ở Việt Nam vì nó đòi hỏi các nghiên cứu cơ bản và hệ thống. Luận văn tốt nghiệp này là kết quả bƣớc đầu về đánh giá ảnh hƣởng của BĐKH tới hệ sinh thái rừng khộp vùng Tây Nguyên ở Việt Nam.
Luận văn tập trung vào việc xác định ảnh hƣởng của 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com BĐKH tới phân bố ranh giới, thay đổi trữ lƣợng các bon và nguy cơ cháy rừng của kiểu rừng khộp vùng Tây Nguyên. Đây là những kết quả sơ bộ và là nền tảng quan trọng cho việc tiến hành đánh giá những ảnh hƣởng của BĐKH trong lĩnh vực lâm nghiệp ở Việt Nam. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 - TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Biến đổi khí hậu - thực tiễn và xu hƣớng Trƣớc những diễn biến và ảnh hƣởng tiêu cực mang tính toàn cầu của BĐKH, các nƣớc trên thế giới đã có nhiều động thái tích cực nhằm ngăn chặn những hiểm họa khôn lƣờng mà biến đổi khí hậu có thể gây ra cho loài ngƣời.
Năm 1979, Hội nghị Khí hậu quốc tế lần thứ nhất đã ra tuyên bố kêu gọi chính phủ các nƣớc nhận thức về mức độ nghiêm trọng và tiến hành các hành động nhằm giảm thiểu các tác động làm biến đổi khí hậu do con ngƣời gây ra. Một loạt các hội nghị liên chính phủ thảo luận về vấn đề biến đổi khí hậu đã đƣợc tổ chức từ những năm cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 nhƣ: Hội nghị Villach (10/1985), Hội nghị Toronto (6/1988), Hội nghị Ottawa (2/1989), Hội nghị Tata (2/1989), Hội nghị và tuyên bố Hague (3/1989), Hội nghị bộ trƣởng Noordwijk (11/1989), Hội nghị Cairo (12/1989), Hội nghị Bergen (5/1990), và Hội nghị Khí hậu thế giới lần thứ 2 (11/1990). Cùng với các bằng chứng khoa học đƣợc đƣa ra ngày càng nhiều, các hội nghị liên quan đến BĐKH và các tác động của nó ngày càng nhận đƣợc sự quan tâm của các nhà khoa học cũng nhƣ cộng đồng quốc tế. Năm 1988, IPCC đƣợc UNEP và WHO thành lập.
IPCC có nhiệm vụ đánh giá một cách tổng hợp, khách quan, minh bạch các thông tin khoa học – kỹ thuật và kinh tế - xã hội liên quan đến các rủi ro xuất phát từ hiện tƣợng BĐKH do các hoạt động của con ngƣời gây ra. Năm 1990, IPCC công bố báo đánh giá đầu tiên về BĐKH. Báo cáo đã gây tiếng vang rất lớn và nhận đƣợc sự quan tâm thích đáng từ cộng đồng quốc tế, nó đƣợc sử dụng là cơ sở để đàm phán Công ƣớc khung của Liên hiệp quốc về BĐKH. Công ƣớc này đƣợc hoàn chỉnh và phê chuẩn tại New York vào tháng 9/1992, đƣợc 154 quốc gia ký kết tại Hội nghị thƣợng đỉnh Rio De Janero và bắt đầu có hiệu lực từ 21/03/1994.
Báo cáo đánh giá thứ 2 về BĐKH do IPCC hoàn thành vào năm 1995. Báo cáo này có công đóng góp của trên 2000 nhà khoa học và chuyên gia trên thế giới. Hội nghị lần thứ 3 của các nƣớc ký kết công ƣớc (COP-3), đƣợc tổ chức 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vào năm 1997 tại Kyoto, đã thông qua Nghị định thƣ Kyoto nhằm hạn chế phát thải khí nhà kính gây ra do BĐKH. Năm 2001, IPCC hoàn thành Báo cáo đánh giá lần thứ 3 về BĐKH, báo cáo kết luận rằng bằng chứng về tác động của con ngƣời lên BĐKH ngày càng rõ hơn và đƣa ra một bức tranh chi tiết về các tác động của sự nóng lên toàn cầu đối với các khu vực trên thế giới.
Báo cáo lần thứ tƣ của IPCC đƣợc công bố vào năm 2007. Trong báo cáo này, IPCC đã khẳng định BĐKH là một vấn đề hiển nhiên và không còn tranh luận. Sự BĐKH đƣợc IPCC chứng minh bằng các số liệu quan trắc nhiệt độ không khí và nƣớc biển, sự tan băng và nƣớc biển dâng. Theo dự báo của các nhà khoa học, nếu tình hình phát thải khí nhà kính không giảm đi thì vào năm 2050 nồng độ khí CO2 trong khí quyển sẽ tăng gấp đôi so với thời kỳ tiền công nghiệp, từ 260 ppm lên 500 ppm (ADB, 2007).
Hiệu ứng nhà kính làm nhiệt độ trái đất tăng lên kéo theo hàng loạt các yếu tố khí hậu khác nhƣ: lƣợng mƣa, độ ẩm, bức xạ… thay đổi theo. Toàn bộ mặt đệm, cả mặt đất và đại dƣơng đều nóng lên, đặc biệt ở các vĩ độ cao dẫn đến hiện tƣợng tan băng các vùng cực, gây nên hiện tƣợng nƣớc biển dâng và xâm lấn các vùng đất ven bờ. Tần suất và cƣờng độ hiện tƣợng El-Nino gia tăng đáng kể, gây lũ lụt và hạn hán ở các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới. Cƣờng độ và liều lƣợng mƣa có nhiều bất thƣờng, những vùng mƣa nhiều thì trở nên nhiều hơn, cƣờng độ lớn hơn; các vùng hạn hán thì trở nên khô cằn hơn.
Khi lƣợng phát thải khí CO2 tăng gấp đôi, lƣợng mƣa tăng ở các vùng vĩ tuyến cao và các vùng nhiệt đới trong tất cả các mùa trong năm; ở vĩ tuyến trung bình lƣợng mƣa sẽ tăng khoảng 10 ÷ 20 %. Song song với hiện tƣợng nóng lên toàn cầu, nƣớc biển dâng, sự thay đổi về mƣa và sự bốc hơi là sự suy thoái của tầng ozôn bình lƣu làm tăng bức xạ cực tím trên trái đất, gây ra những ảnh hƣởng lớn cho loài ngƣời, các hệ sinh thái, và đời sống kinh tế xã hội (Bộ NN & PTNT, 2008). Ở khu vực Đông Nam Á, Tổ chức Nghiên cứu Khoa học, Sức khỏe cộng đồng và Công nghiệp Úc (SCIRO) đã ƣớc lƣợng các phƣơng án BĐKH cao, vừa và thấp. Theo đó, ở Đông Nam Á đến năm 2070, nhiệt độ có thể tăng 0,4 0C (phƣơng 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Lƣợng mƣa có thể biến động từ 5 – 10% trong mùa mƣa và 0 - 5 % trong mùa khô, mực nƣớc biển sẽ tăng từ 15 đến 90 cm theo các phƣơng án biến đổi khí hậu từ thấp đến cao. Trong 200 năm qua nồng độ khí CO2 trong khí quyển đã tăng thêm một phần ba so với thời kỳ tiền công nghiệp, vào khoảng 372 ppm. Nồng độ các khí gây hiệu ứng nhà kính khác cũng tăng do hoạt động của con ngƣời, cách đây 200 năm nồng độ khí CH4 là 800 ppb, còn bây giờ là 1750 ppb. NOx cũng tăng lên từ 270 ppb lên 310ppb.
Các khí gây hiệu ứng nhà kính trong đó có khí CO2 là nguyên nhân chính gây nên hiện tƣợng nóng lên toàn cầu (IPCC, 2007). Lƣợng phát thải CO2 tƣơng đƣơng trong thế kỷ 21 của các kịch bản. Hoạt động của con ngƣời trong 200 năm qua đã làm tăng 50% nồng độ các KNK trong khí quyển so với thời kỳ trƣớc công nghiệp. Việc tăng nhanh lƣợng phát thải khí CO2 từ việc đốt nhiên liệu hóa thạch diễn ra từ những năm 1950 do nhu cầu sử dụng năng lƣợng tăng khi dân số thế giới tăng nhanh.
Từ năm 1970 đến năm 2004 khí CO2 trên toàn thế giới tăng 70% (IPCC, 2007). Bên cạnh đó sự gia tăng các KNK còn bắt nguồn từ đốt phá rừng, sử dụng không hợp lý các hệ sinh thái ven 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com biển, đặc biệt là đất ngập nƣớc (chiếm khoảng 10% lƣợng phát thải các KNK) dẫn đến hiện tƣợng nóng lên toàn cầu (Nguyễn Hữu Ninh, 2008). Các KNK phát thải từ các hoạt động không hợp lý của con ngƣời tác động tới nhiều mặt của đời sống con ngƣời, các hệ sinh thái… và trầm trọng nhất là hiện tƣợng trái đất đang nóng dần lên. Theo dõi thống kê sự BĐKH từ 1850 đến năm 2000 cho thấy nhiệt độ trung bình của trái đất đã tăng 0,740C, trong đó nhiệt độ tại hai vùng cực tăng gấp 2 lần so với nhiệt độ tăng trung bình trên toàn cầu.
Dự báo biên độ tăng nhiệt độ của trái đất từ nay đến năm 2100 có thể trong khoảng 1,1 – 6,40C, đây là mức tăng chƣa từng có tiền lệ trong lịch sử 10.000 năm qua của loài ngƣời và nhiệt độ cũng không tăng đồng đều ở các vùng, các quốc gia trên thế giới (IPCCC, 2007). Hậu quả của sự nóng lên toàn cầu sẽ làm các lớp băng tuyết tan nhanh hơn trong những thập tới. Trong thế kỷ 20, trung bình mực nƣớc biển dâng tại Châu Á là 2,4 mm/năm và chỉ riêng thập kỷ vừa qua là 3,1 mm/năm, và đƣợc dự báo là sẽ tiếp tục tăng cao hơn trong thế kỷ 21, ít nhất là 2,8 – 4,3 mm/năm (IPCCC, 2007).