CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÀI CHÍNH VI MÔ 1. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN TCVM TCVM được ra đời ở Bangladesh - một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới. Trong khi chính phú đang nỗ lực xây dựng được một hệ thống ngân hàng nông thôn vững mạnh ở Bangladesh thì năm 1976, một sáng kiến nhỏ của tư nhân đã được đưa ra để giúp đỡ những người không có ruộng đất, không có tài sản thế chấp ngân hàng thông thường để vay vốn. Chương trình này đã được trở thành Ngân hàng (nông thôn) Grameccn, Quy trình hoạt động đặc thù của ngân hàng Grameen được phát triển từ những nổ lực nhằm trợ giúp người nghèo nông thôn có sự thay đổi lớn đối với hoạt động ngân hàng truyén thống.
Khách của ngân hàng, chỉ giới hạn cho người rất nghèo, được chia thành những nhóm 5 người, mỗi thành viên phải thực hiện một chế độ tiết kiệm định kỳ hàng tuân trước khi xin vay. Hai người vay đầu tiên trong nhóm phải trả nợ đều đặn một số tuần trước khi các thành viên khác trong nhóm được vay. Hầu hết các khoản vay đều được dùng để buôn bán và mua gia súc. Đến tháng 2/1987, Ngân hàng Grameen đã có 2300 chi nhánh bao quát 3.000 người đã tham gia, trong đó số phụ nữ ngày càng tăng, chiếm gần 75%.
Thành viên nhóm gồm 13% là các hộ gia đình có dưới một nửa acre (mẩu Anh) đất thuộc phạm vỉ hoạt động của ngần hàng. Các món vay nhỏ, trung bình khoáng 3. Đến cuối năm 1986, đã cho vay 1,4 tỷ taka, trong đó đã thu hổi được gần 1,2 tỷ taka. Nd qué han chỉ khoảng 300 triệu taka mà 70 % số đó là phụ nữ vay.
Tương phản rõ nét với hệ thống ngân hằng thương mại Bangladesh, Ngân hàng Gramcen đã có thành 13 tích thu hồi nợ xuất sắc, đến tháng 2/1987 khoản vay đã thu hồi chỉ trong vòng một năm sau khi cho vay và gần 99% sau 2 năm cho vay. Thành tích tuyệt vời này theo báo cáo là do kết hợp của nhiều yếu tố : giám sát chặt chế các công việc đồng áng, nhân viên ngân hàng làm việc tận tâm, mục đích ổi vay là tạo nguồn thu nhập ổn định, sự gắn bó chặt chẽ trong các nhóm, quy định trả nợ định kỳ theo tuần. Một yếu tố khác khuyến khích việc trả nợ nhanh là người vay ý thức được rằng khả năng vay tiếp tuỳ thuộc vào lình hình thanh toán khoán vay hiện tại. Nhân viên ngân hãng hàng tuần hợp với các nhóm để cho vay, nhận tiền tiết kiệm và các khoản trả nợ, đồng thời huấn luyện cho họ về trách nhiệm tài chính.
Điểu này có nghĩa là chỉ phí vận hành sẽ rất cao. Tỷ lệ chỉ tiêu trên vốn vay tăng từ 9% năm 1984 lén 18% nam 1986. Chi phi cao này được bù đắp một phần nhờ thu hút các nguồn vốn ưu đãi từ các tổ chức nước ngoài. KHÁI NIỆM TCVM Trước kia, TCVM được coi là “phương pháp tín dụng sử dụng các cơ chế hiệu quả thay thế vật thể chấp để nhân phối và tha hãi vốn vay kinh doanh ngắn hạn cho các nhà doanh nghiệp nhỏ, với triển vọng là những doanh nghiệp nhỏ của khách hàng sẽ tăng trưởng tạo thu nhập cho họ và đôi khi tạo thêm việc làm, đưa người nghèo thoát khỏi nghèo khổ ”.
Trải qua nhiều năm hoạt động, các nhà tài trợ đã học được rằng : TCVM cần có các thể chế bến vững với một cấu trúc, đội ngũ nhân viên và hệ thống thủ tục vận hành đúng dắn ; TCVM cần một môi trường pháp lý và điều tiết thuận lợi để đảm bảo là một sân chơi cạnh tranh và bình đắng; Người nghèo cần nhiều loại dịch vụ tài chính đa dạng chứ không chỉ là tín dụng, ví dụ như dịch vụ tiết kiệm, chuyển tiến và bảo hiểm. 14 Với sự phát triển của TCVM, hiện nay có nhiều khái niệm được đưa ra từ các tổ chức tài chính như : *$ Ngân hàng Phát triển Châu á (ADB) định nghĩa TCVM “la việc cung cấp các dịch vụ tài chính như gửi tiền, cho vay, các dịch vụ thanh toán, chuyển tiên và bảo hiểm tới các hộ nghèo, hộ thu nhập thấp và các doanh nghiệp quy mô nhỏ”. ADB xác định có 3 nguồn cung cấp dịch vụ TCVM: các định chế chính thức như ngân hàng và các hợp tác xã, các định chế bán chính thức như các tổ chức phi chính phủ; và các nguồn phi chính thức như những người cho vay nặng lãi và thương nhân. TCVM bao gồm các định chế chính thức và bán chính thức.
Các định chế TCVM được biểu là các tổ chức hoạt động kinh doanh chủ yếu là TCVM. d- Nghị định 28/2005/NĐ-CP ngày 9/3/2005 của Chính phủ ban hành về tổ chức hoạt động của tổ chức tài chính quy mô nhỏ (TCVM) tại Việt Nam định nghĩa “T?CVM là hoạt động cung cấp một số dịch vụ tài chính, ngân hàng nhỏ, đơn giân cho các hộ gia đình, cá nhân có thu nhập thấp, đặc biệt là hệ gia đình nghèo và người nghèo; Tổ chức tài chính quy mô nhỏ (định chế TCVM) là tổ chức tài chính hoạt động trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng với chức năng chủ yếu là sử dụng vốn tự có, vốn vay và nhận tiết kiệm để cung cấp một số dịch vụ tài chính, ngân hàng nhỏ, đơn giản cho các hộ gia đình, cá nhân có thụ nhập thấp”. Ở Việt Nam, sản phẩm chủ yếu vẫn là tín dụng, tuy nhiên cũng có một vài tổ chức bắt đầu mở rộng sản phẩm mà họ cung cấp. Các món vay nhỏ thường được đẫu tư cho: sản xuất nông nghiệp như trồng rau, cây ăn quả và chăn nuôi; các dịch vụ như xây dựng sửa chữa máy móc, dịch vụ thẩm mỹ; nuôi cá và nuôi trồng thủy sản; tiểu thủ công; buôn bán nhỏ.
Mức vốn thường 15 nhỏ (từ I đến dưới 10 triệu đồng) và lãi suất cao hơn so với vốn vay của ngân hàng thương mại (NHTM). Vốn nhỏ giúp cho khách hàng dễ quản lý và hoàn trả nợ của họ, lãi suất cao hơn cho phép người cung cấp TCVMI bù đắp được chi phí cao của việc cho người nghèo vay. Những kinh nghiệm trên thế giới cho thấy: người nghèo coi trọng việc được tiếp cận tín dụng và tự nguyện trả để được vay thêm; chương trình TCVM cẩn thiết lập lãi suất ở mức đủ cao để bù đắp được tối thiểu là chỉ phí vận hành nhằm mục đích tiếp tục cung cấp vốn lâu dài và bển vững; lãi suất cho vay của TCVM vẫn thấp hơn so với lãi của tư nhân cho vay không chính thức. VAI TRÒ CỦA TCVM Tầm quan trọng của tài chính Vi mô đã được biết đến từ hơn hai thập niên trước.
Các đại lý cho vay, các tổ chức từ thiện, các tổ chức phi chính phủ tại các nước phát triển và đang phát triển hoàn toàn hỗ trợ cho sự phát triển của tài chính vi mô. Các NHTM cũng đã kết nối các tổ chức này trong vài năm gần đây. Qua đó, những dịch vụ TCVM tài chính vi mô đã phát triển một cách nhanh chóng trong thập niên trước từ mức độ thấp ban đầu và đến nay đã được biết đến như là một công cụ để giảm nghèo của một quếc gia. Đặc trưng của các nước đang phát triển là còn tổn tại nghèo đói và thất nghiệp.Và những tổ chức TCVM là những doanh nghiệp tiểm năng để cung cấp vốn tạo thu nhập và việc làm cho những người nghèo góp phần cho phát triển kinh tế và giảm nghèo.
TCVM có thể giúp đỡ người nghèo tăng thêm thu nhập của họ, xây dựng cho họ có thể sống được và giảm bớt tính dễ bị tổn thương của họ từ những cú sốc bên ngoài. Nó cũng là một công cụ mạnh để nâng cao năng lực l6 tự thân vận động cho người nghèo, đặc biệt là phụ nữ, để họ trở thành là những đại diện cho sự thay đổi kinh tế của quốc gia. Như vậy, cung cấp các dịch vụ TCVM có một vai trò quan trọng trong sự đấu tranh chống lại nghèo đói và là một chiến lược giấm nghèo có hiệu quả. TCVM còn cung cấp các dịch vụ tiết kiệm, bảo hiểm để người nghèo quản lý tốt thu nhập của họ cũng như quản lý các rủi ro và từng bước cải thiện chất lượng cuộc sống.
Những dịch vụ TCVM còn có thể trợ giúp đến sự phân bố các nguồn lực tài nguyên một cách hiệu quả hơn, thúc đẩy phát triển hệ thống tài chính thông qua việc hợp nhất các thị trường tài chính. Như vậy, TCVM là một công cụ hỗ trợ việc đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế và sự phát triển quốc gia. ĐẶC ĐIỂM CỦA TCVM w% Khách hành chủ yếu của các tổ chức tài chính vi mô là hộ nghèo/phụ nữ nghèo. Phụ nữ có cơ hội thấp hơn so với nam giới khi tiếp cận đến các ngân hàng, vì vậy khách hàng của tài chính vi mô thường là phụ nữ.
Hoạt động của tài chính vi mô bên cạnh việc cung cấp tín dụng nhằm nâng cao mức sống cho họ thì còn nâng cao vai trò và vị trí của họ trong xã hội, xoá bỏ bất bình đẳng về giới ở vùng nông thôn. Mục tiêu hỗ trợ cho những đối tượng khách bàng của các chương trình tài chính vi mô thường đi kèm với mục tiêu khuyến khích tiết kiệm và tạo thói quen tiết kiệm cho người nghèo để họ có mộ tương lai tốt hơn. Thói quen tiết kiệm tạo vốn là điều kiện để sau khi các chương trình tài chính vi mô này kết thúc, họ có một cơ sở tài chính bên vững. 17 s“ Các chương trình tài chính vi mồ thường sử dụng hình thức chịu trách trách nhiệm chung qua nhóm, bằng việc cho vay có sự đảm bảo của cả nhóm.
Đây là một hình thức tín chấp thay thế cho việc phải có tài sản thế chấp khi đến ngân hàng. Các chương trình tài chính vi mô thường tạo điều kiện cho nhóm vay có được sự hiểu biết lẫn nhau thông qua việc họp nhóm và hỗ trợ nhau với tiêu chí hỗ trợ thành viên trong nhóm để họ đảm bảo an toàn cho mình sẽ là người được vay tiếp theo. Vì thế, họ theo đõi và hỗ trợ rất tốt cho nhan trong việc bảo toàn đồng vốn đến từ chương trình tài chính vi mô cho nhóm mình. Với việc lấy uy tín của cả nhóm để đảm bảo nên tỷ lệ hoàn vốn với các chương trình tín dụng vi mô là rất cao bởi họ có tỉnh thần tập thể giám sát lẫn nhau, hễ trợ lẫn nhau.
+ Món vay của các chương trình tài chính vi mô thường là các món vay nhỏ, thời hạn ngắn.