Tổng quan nghiên cứu

Tương tác hội thoại học đường chiếm hơn 70% thời lượng sinh hoạt hằng ngày của học sinh, đóng vai trò nền tảng định hình năng lực nhận thức và phát triển kỹ năng xã hội. Phần lớn các công trình ngữ dụng học trước đây chỉ tập trung vào giao tiếp chính thức giữa thầy và trò trong giờ học, bỏ qua không gian giao tiếp tự nhiên ngoài lớp học. Nhận diện khoảng trống nghiên cứu này, luận văn thạc sĩ chuyên ngành Ngôn ngữ Việt Nam của tác giả Nguyễn Kim Sơn do Phó Giáo sư Tiến sĩ Đỗ Minh Hùng hướng dẫn tại Trường Đại học Đồng Tháp năm 2020 đã giải quyết vấn đề bằng việc khảo sát thực chứng ngôn ngữ học đường phi hình thức.

Mục tiêu trọng tâm của đề tài là hệ thống hóa và phân tích đặc điểm từ ngữ, cấu trúc câu và các hành động ngôn ngữ của học sinh lứa tuổi thiếu niên từ 11 đến 15 tuổi thuộc các khối lớp 6 đến lớp 9. Phạm vi nghiên cứu thực địa được triển khai tại Trường Trung học cơ sở Kim Hồng, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp trong khoảng thời gian tháng 5 đến tháng 6 năm 2020. Dữ liệu ghi nhận từ 252 cuộc hội thoại tự nhiên trong 60 buổi ra chơi ở hai khung giờ cố định: buổi sáng từ 9h30 đến 9h55 và buổi chiều từ 14h15 đến 14h35.

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện qua việc lượng hóa bức tranh ngôn ngữ với 1.304 lượt đơn vị từ vựng tiêu biểu và 766 lượt cấu trúc xưng hô. Kết quả nghiên cứu mang lại giá trị thực tiễn cao cho công tác giáo dục học đường tại một cơ sở đào tạo có quy mô 1.864 học sinh và 43 lớp học, giúp các nhà sư phạm hiểu rõ tâm lý lứa tuổi thiếu niên, từ đó định hướng chuẩn mực giao tiếp văn hóa mà vẫn bảo tồn nét đặc trưng phương ngữ Nam Bộ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Khung lý thuyết của đề tài xây dựng trên nền tảng Ngữ dụng học hiện đại, kết hợp chặt chẽ giữa Lý thuyết Hội thoại và Lý thuyết Hành động ngôn ngữ. Tác giả vận dụng mô hình vận động hội thoại của Đỗ Hữu Châu với cấu trúc ba giai đoạn: mở thoại, thân thoại và kết thoại, kết hợp nguyên tắc tương tác qua lại và luân phiên lượt lời. Nghiên cứu tích hợp nguyên tắc cộng tác hội thoại của Grice gồm bốn phương châm: phương châm về lượng, phương châm về chất, phương châm quan hệ và phương châm cách thức, cùng lý thuyết lịch sự và thể diện của Brown, Levinson và Nguyễn Thiện Giáp để phân tích hành vi tương tác.

Về hành động ngôn ngữ, luận văn kế thừa hệ thống phân loại của Austin và Searle, chia hành vi lời nói thành ba cấp độ: tạo lời, tại lời và mượn lời; đồng thời khảo sát sâu năm nhóm hành động tại lời cơ bản gồm biểu hiện, điều khiển hoặc cầu khiến, cam kết, biểu cảm và tuyên bố. Nghiên cứu làm rõ bốn khái niệm then chốt: biểu thức ngữ vi tường minh và hàm ẩn, động từ ngữ vi, vai giao tiếp và trường giao tiếp không gian thời gian tự do của học sinh trung học cơ sở.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp điền dã ngôn ngữ học. Tác giả tiến hành ghi âm trực tiếp và ngẫu nhiên 252 cuộc thoại ngắn của học sinh trong 60 buổi ra chơi tại sân trường, hành lang và lớp học, sau đó chuyển thể chính xác 100% ngữ liệu âm thanh thành văn bản để xử lý. Cỡ mẫu 252 cuộc thoại đại diện cho quần thể 1.864 học sinh của toàn bộ 43 lớp học tại Trường Trung học cơ sở Kim Hồng.

Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng theo khung giờ cố định (25 phút buổi sáng và 20 phút buổi chiều) giúp bảo đảm tính khách quan, tự nhiên và phản ánh trung thực thói quen ngôn ngữ đời thường không bị chi phối bởi sự giám sát sư phạm. Sau khi lập ngữ liệu, tác giả ứng dụng phương pháp thống kê mô tả, phân loại định lượng theo từng trường từ vựng và kiểu hành vi, kết hợp phương pháp phân tích, miêu tả, so sánh đối chiếu ngữ dụng học. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm bảo đảm tính xác thực thực nghiệm, đối sánh trực quan tỷ lệ phần trăm giữa các biến số ngôn ngữ trong giai đoạn khảo sát tháng 5 đến tháng 6 năm 2020.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thống kê 1.304 lượt đơn vị từ ngữ tiêu biểu trong 252 cuộc hội thoại cho thấy ba phát hiện nổi bật:

Thứ nhất, lớp từ xưng hô chiếm ưu thế tuyệt đối với 766 lượt xuất hiện, tương đương 58,74% tổng số từ ngữ khảo sát. Trong đó, xưng hô bằng đại từ nhân xưng chiếm 69,19% với 530 lượt, dẫn đầu là cặp đại từ "tao - mày" với 283 lượt (từ "tao" đạt 154 lượt chiếm 29,05% và "mày" đạt 129 lượt chiếm 24,33%). Hình thức xưng hô bằng danh từ thân tộc chiếm 10,70% với 82 lượt, trong đó từ "bà" áp đảo ở mức 63,41% (52 lượt) và "con" chiếm 17,07% (14 lượt). Xưng hô bằng tên riêng và danh từ tổ chức chiếm 20,10% với 154 lượt, trong đó gọi tên riêng chiếm 55,19% (85 lượt).

Thứ hai, lớp từ tình thái đóng vai trò phương tiện bộc lộ cảm xúc chủ đạo với 429 lượt, chiếm 32,86% tổng thể. Trong 429 lượt này, nhóm từ biểu thị quan điểm và thái độ cảm xúc chiếm tỷ lệ cao nhất với 225 lượt (52,45%), dẫn đầu bởi các từ như "à" (104 lượt, chiếm 24,24%) và "ừ/ừa/dạ" (85 lượt, chiếm 19,81%). Nhóm từ tình thái cầu khiến đạt 91 lượt (21,21%), nhóm hỏi hoặc nghi vấn đạt 63 lượt (14,68%) và nhóm gọi đáp đạt 50 lượt (11,65%).

Thứ ba, lớp từ vay mượn tiếng Anh và biệt ngữ xã hội xuất hiện 109 lượt, chiếm tỷ lệ 8,35%, phản ánh xu hướng tiếp nhận công nghệ số của học sinh qua các từ ngữ đời thường như "ok", "game", "zalo", "bigsize".

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân dẫn đến sự áp đảo của cặp đại từ "tao - mày" (chiếm hơn 53% trong nhóm đại từ) và đại từ phương ngữ Nam Bộ "tui - bây" (chiếm hơn 14%) là do đặc điểm tâm lý lứa tuổi 11 đến 15 tuổi. Đây là giai đoạn các em mong muốn khẳng định sự bình đẳng, giải tỏa áp lực học đường và thiết lập tình bạn thân thiết. Trong không gian giờ ra chơi, cặp từ "tao - mày" được sử dụng với sắc thái thân mật, gắn kết, không mang hàm ý xúc phạm hay coi khinh.

Dữ liệu nghiên cứu được hệ thống hóa qua 7 bảng thống kê chi tiết và có thể trực quan hóa sinh động bằng biểu đồ tròn phân bổ 3 lớp từ vựng (Xưng hô 58,74%, Tình thái 32,86%, Vay mượn 8,35%) cùng biểu đồ cột thể hiện tần suất 4 nhóm chức năng tình thái từ. Khi so sánh với các công trình nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Bích năm 2018 về tương tác thầy trò trong giờ đọc hiểu hoặc Vũ Thị Thu Hoài năm 2019 trong tiết sinh hoạt lớp, giao tiếp giờ ra chơi có tần suất sử dụng thuật ngữ chuyên ngành và từ Hán Việt gần như bằng 0%, nhưng lại vượt trội về tính linh hoạt, khẩu ngữ hóa và mật độ hành vi cầu khiến, biểu cảm.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả khảo sát thực tế, luận văn đưa ra bốn giải pháp trọng tâm:

Thứ nhất, Ban Giám hiệu nhà trường và tổ chức Đoàn Đội triển khai chương trình "Văn hóa ứng xử học đường và kỹ năng giao tiếp thế hệ mới" định kỳ 2 tuần một lần trong các buổi sinh hoạt dưới cờ và hoạt động ngoài giờ lên lớp. Mục tiêu giảm thiểu 80% hiện tượng dùng tiếng lóng lệch chuẩn hoặc từ ngữ tùy tiện tiêu cực trong vòng 6 tháng đầu năm học.

Thứ hai, Tổ chuyên môn Ngữ văn và Giáo viên chủ nhiệm tích hợp các bài tập tình huống ngữ dụng học thực tế vào phân môn Tiếng Việt cho học sinh 4 khối lớp từ lớp 6 đến lớp 9. Thời lượng thực hiện 1 tiết mỗi tháng, hướng dẫn học sinh nhận diện và sử dụng chính xác biểu thức ngữ vi, động từ ngữ vi và từ ngữ xưng hô phù hợp từng vai giao tiếp.

Thứ ba, Ban đại diện Cha mẹ học sinh phối hợp với gia đình xây dựng môi trường giao tiếp chuẩn mực tại nhà, dành ít nhất 30 phút mỗi ngày trò chuyện cùng con em, định hướng thái độ tôn trọng và chuẩn mực ngôn ngữ trong độ tuổi thiếu niên từ 11 đến 15 tuổi.

Thứ tư, Sở Giáo dục và Đào tạo cùng các trường Trung học cơ sở trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp định kỳ hằng năm tổ chức hội thảo chuyên đề ngôn ngữ học đường, xây dựng bộ tiêu chí đánh giá chuẩn văn hóa giao tiếp học sinh nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho hơn 1.800 học sinh mỗi điểm trường.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho bốn nhóm đối tượng chính:

  1. Học viên cao học, nghiên cứu sinh và nhà nghiên cứu chuyên ngành Ngôn ngữ học, Ngữ dụng học và Ngôn ngữ học xã hội: Cung cấp khung lý thuyết ngữ dụng học thực nghiệm vững chắc, hệ thống phương pháp điền dã ghi âm 252 cuộc thoại thực tế và mô hình phân loại hành động ngôn ngữ chi tiết.

  2. Giáo viên Ngữ văn tại các trường Trung học cơ sở và Trung học phổ thông: Khai thác ngữ liệu thực tế sinh động để thiết kế giáo án giảng dạy các bài học về Hội thoại, Từ tình thái, Nghĩa tường minh và hàm ý trong chương trình giáo dục phổ thông.

  3. Cán bộ quản lý giáo dục, Ban Giám hiệu và Tổng phụ trách Đội: Sử dụng dữ liệu thực chứng về tâm lý ngôn ngữ học sinh để xây dựng quy tắc ứng xử học đường, nâng cao hiệu quả công tác quản trị và giáo dục đạo đức lối sống cho hơn 1.800 học sinh.

  4. Chuyên gia tâm lý học đường và phụ huynh có con trong độ tuổi thiếu niên từ 11 đến 15 tuổi: Hiểu rõ phương thức giao tiếp, nhu cầu khẳng định bản thân và đặc điểm cảm xúc của học sinh, từ đó thiết lập kênh đối thoại đồng cảm và định hướng hành vi hiệu quả.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tại sao học sinh Trung học cơ sở lại sử dụng cặp từ xưng hô "tao - mày" nhiều nhất trong giờ ra chơi? Thống kê 252 cuộc thoại ghi nhận 283 lượt dùng "tao - mày", chiếm 53,38% tổng số đại từ. Trong không gian giờ ra chơi tự do, học sinh từ 11 đến 15 tuổi dùng cặp từ này như một quy ước biểu thị mối quan hệ bạn bè ngang hàng, thân mật và bình đẳng, hoàn toàn không mang sắc thái tiêu cực hay coi thường.

  2. Lớp từ tình thái có vai trò gì đặc biệt trong hội thoại của học sinh? Từ tình thái xuất hiện 429 lượt chiếm 32,86%, trong đó 52,45% dùng để biểu thị quan điểm, thái độ cảm xúc qua các từ như "à", "ừ", "á" và 21,21% dùng để cầu khiến qua các từ như "nha", "nhe", "đi". Chúng giúp học sinh bộc lộ cảm xúc tức thì, duy trì tương tác tự nhiên và củng cố sự liên kết nhóm.

  3. Tác động của phương ngữ Nam Bộ thể hiện như thế nào trong đề tài? Ngữ liệu tại thành phố Cao Lãnh cho thấy dấu ấn đậm nét của phương ngữ Nam Bộ qua các đại từ xưng hô "tui" với 65 lượt, "bây/tui bay" với 10 lượt, danh từ thân tộc "bà" với 52 lượt và từ tình thái "nghen", "nhen" với 27 lượt, phản ánh phong cách cởi mở, gần gũi đặc trưng của vùng Đồng Tháp.

  4. Phương pháp thu thập dữ liệu 252 cuộc thoại có đảm bảo tính khách quan không? Tác giả thực hiện ghi âm ngẫu nhiên trong 60 buổi ra chơi tại 43 lớp học Trường Trung học cơ sở Kim Hồng. Việc học sinh không bị chi phối bởi sự giám sát sư phạm giúp dữ liệu đạt độ chân thực 100%, phản ánh chính xác cấu trúc ngôn ngữ đời thường.

  5. Luận văn có thể ứng dụng trực tiếp vào giảng dạy môn Ngữ văn cấp Trung học cơ sở như thế nào? Giáo viên có thể dùng 252 đoạn thoại thực tế làm ngữ liệu trực quan cho các bài học về vai giao tiếp, lượt lời hội thoại và hành động ngôn ngữ, thay thế các ví dụ sách vở bằng tình huống thực tế gần gũi với học sinh từ 11 đến 15 tuổi.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện lý thuyết Ngữ dụng học ứng dụng trong môi trường học đường phi chính thức với cỡ mẫu 252 cuộc thoại thực tế.
  • Lượng hóa chi tiết cấu trúc 1.304 đơn vị từ ngữ, xác định vai trò áp đảo của từ xưng hô với 58,74% và từ tình thái với 32,86%.
  • Làm sáng tỏ mối liên hệ mật thiết giữa tâm lý lứa tuổi thiếu niên từ 11 đến 15 tuổi với xu hướng sử dụng đại từ thân mật và phương ngữ Nam Bộ.
  • Cung cấp cơ sở khoa học thực chứng để xây dựng bộ quy tắc ứng xử văn hóa học đường cho hơn 1.860 học sinh cấp trung học cơ sở.
  • Mở ra hướng nghiên cứu mở rộng sang hành vi ngôn ngữ kỹ thuật số trên mạng xã hội của học sinh trong giai đoạn tiếp theo 2024 đến 2026.

Luận văn của tác giả Nguyễn Kim Sơn là công trình tiên phong tại Đồng Tháp khảo sát ngôn ngữ học đường ngoài lớp học, tạo bước ngoặt trong nghiên cứu ngữ dụng học tiếng Việt ứng dụng. Kế hoạch tiếp theo đề xuất mở rộng khảo sát so sánh đa trường học tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long trong giai đoạn 2024 đến 2026 với mục tiêu chuẩn hóa tài liệu giảng dạy giao tiếp sư phạm. Bạn đọc và các nhà nghiên cứu quan tâm hãy liên hệ và khai thác toàn văn công trình nghiên cứu 111 trang để tiếp cận hệ thống dữ liệu ngữ dụng học độc đáo, phục vụ đắc lực cho công tác nghiên cứu khoa học và đổi mới phương pháp giảng dạy ngôn ngữ học đường ngay hôm nay.