CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 1. Ở nước ngoài Quản lý giáo dục nói chung và quản lý hoạt động đổi mới phương pháp dạy học nói riêng đã được các nhà quản lý giáo dục nghiên cứu từ thời cổ đại. Trước công nguyên, Socrate (469-390 Tr.CN) - Hy Lạp đã từng khẳng định “Anh hãy tự biết lấy anh”, ông nêu phương pháp, trong đó người dạy chỉ giữ vai trò hướng dẫn, giúp đỡ, còn người học tự mình tìm ra tri thức.
Ông gọi phương pháp này là “Phép đỡ đẻ” [34]. Đến thế kỷ XVI trở đi, có rất nhiều nhà nghiên cứu giáo dục đã đưa ra những tư tưởng tiến bộ. Monteque (1533-1592) được mệnh danh là ông tổ sư phạm của Châu Âu đã chủ trương giảng dạy bằng hoạt động, bằng quan sát trực tiếp, bằng sự tiếp xúc với các sự vật trong đời sống hàng ngày. Muốn giảng dạy tốt “Phải cho học sinh chạy trước mà nhận xét” chứ không bắt buộc trẻ em nhắm mắt theo những nhận định chủ quan của người thầy.
Comensky (1592-1670) đã cho rằng người thầy phải dạy thế nào để cho học sinh thích thú học tập và có những cố gắng bản thân để nắm lấy tri thức. Ông nói: “Tôi thường bồi dưỡng cho học sinh của tôi tinh thần độc lập trong quan sát, trong đàm thoại và trong việc ứng dụng tri thức vào thực tiễn” [34]. John Dewey (1859-1952) chủ trương phải dựa vào kinh nghiệm thực tế của trẻ em. Việc giảng dạy phải kích thích được hứng thú, phải để trẻ em độc lập tìm tòi, thầy giáo vừa là người thiết kế vừa là người cố vấn.
Các nhà lý luận quản lý quốc tế như: Frederich Wiliam Taylor (1856- 9 1915), Mỹ; Henri Fayol (1841- 1925), Pháp; Max Weber (1864- 1920), Đức đều đã khẳng định: Quản lý là khoa học và đồng thời là nghệ thuật thúc đẩy sự phát triển xã hội [34]. Song song với đổi mới PPDH là vấn đề quản lý. Từ cuối thế kỷ XIV vấn đề dạy học và quản lý dạy học được nhiều nhà giáo dục quan tâm, nổi bật nhất trong thời kỳ này là: Cômenxki (1592-1670) đã đưa ra quan điểm giáo dục phải thích ứng với tự nhiên. Theo ông quá trình dạy học để truyền thụ và tiếp nhận tri thức là phải dựa vào sự vật, hiện tượng do học sinh tự quan sát, tự suy nghĩ mà hiểu biết, không nên dùng uy quyền bắt buộc, gò ép người ta chấp nhận bất kỳ một điều gì và ông đã nêu ra một số nguyên tắc dạy học có giá trị rất lớn đó là: nguyên tắc trực quan; nguyên tắc phát huy tính tự giác tích cực của học sinh; nguyên tắc hệ thống và liên tục; nguyên tắc củng cố kiến thức; nguyên tắc giảng dạy theo khả năng tiếp thu của học sinh (vừa sức); dạy học phải thiết thực; dạy học theo nguyên tắc cá biệt.
Các nhà Giáo dục học trên thế giới cũng đã biên soạn nhiều tài liệu về PPDH và đổi mới PPDH như: - “Những cơ sở của Lý luận dạy học” – B.EExipôp, NXB Giáo dục, 1978 - “Giảng dạy ngày nay” – G.Petty, NXB Stantey Thomes, 1998 (Dự án Việt – Bỉ dịch) - “Dạy học nêu vấn đề” – Tác giả I.Lecne, NXB Giáo dục Hà Nội, 1977 - “Những cơ sở của việc dạy học nêu vấn đề” – Tác giả V.Ôkôn, Trường Đại học sư phạm Hà Nội, 1968 …. Như vậy, nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học, đổi mới PPDH trên thế giới đã có từ lâu đời và đã đạt được những thành tựu quan trọng, đóng góp vào trào lưu cải cách giáo dục hiện đại. Ở trong nước Vấn đề đổi mới PPDH không phải là những nghiên cứu mới mẻ mà vốn đã có từ lâu. Ở nước ta, những năm 1960 phong trào cải tiến PPDH đã xuất hiện nhiều trường phổ thông.
Từ đó đến nay đã có nhiều nhà nghiên cứu, nhiều sách viết về đổi mới PPDH nhằm phát huy năng lực sáng tạo, nghệ thuật sư phạm trong quá trình giảng dạy của người giáo viên để đạt hiệu quả cao nhất. Bởi vậy, đổi mới PPDH không phải là vấn đề lớn lao mà đó là sự sử dụng hợp lý, sáng tạo cách dạy, cách truyền thụ để học sinh dễ hiểu, dễ tiếp thu nhất từ đó giúp người học vừa nắm chắc kiến thức, vừa có kỹ năng thực hành. Đứng trước nhiệm vụ đổi mới giáo dục và đào tạo nói chung và đổi mới nội dung, PPDH nói riêng, nhiều nhà giáo dục đã nghiên cứu PPDH trong đó có những nhà giáo dục học, tâm lý học đã đi sâu nghiên cứu về vấn đề đổi mới nội dung dạy học theo hướng nâng cao tính hiện đại và gắn khoa học với thực tiễn sản xuất và đời sống. Dạy học tích cực, lấy HS làm trung tâm trong hoạt động dạy được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm như Phạm Minh Hạc [16], [17]; Phan Trọng Luận [30]; Đặng Thành Hưng [21];.
Về đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn, có thể kể đến một số công trình mang tính chất khai sáng, định hướng cho dạy học môn Ngữ văn trong hệ thống giáo dục nhà trường Việt Nam, có thể kể đến các chuyên luận với nội dung đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn của Phan Trọng Luận [30]; Đỗ Ngọc Thống [35]; Trần Bá Hoành [20];. Các nhà khoa học Việt Nam đều tiếp cận QLGD, quản lý trường học, quản lý hoạt động dạy học trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh. Bằng sự tổng hoà các tri thức của QLGD, Giáo dục học, Tâm lý học, Xã hội học, Kinh tế học., tiếp thu lý luận giáo dục và dạy học hiện đại của các nước tiên tiến trên thế giới, nhiều nhà khoa học đã có các công trình nghiên cứu một cách khoa học. Trong nước, nhiều nhà khoa học, 11 nhà giáo dục đã có nhiều công trình nghiên cứu về quản lý giáo dục, quản lý trường học, quản lý hoạt động dạy học.
Tác giả Nguyễn Ngọc Hợi, Phạm Minh Hùng, Thái Văn Thành khi nghiên cứu về “Một số biện pháp quản lý hoạt động chuyên môn nghiệp vụ của giáo viên” đã khẳng định: “Tùy theo các bậc học, trong từng nội dung hoạt động chuyên môn của giáo viên có thể có những yêu cầu biện pháp khác nhau nhằm góp phần xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục” [Tạp chí Giáo dục, số 133, kỳ 1, 3-2006]. Hiện nay Bộ Giáo dục và Đào tạo đang trong thực hiện đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông nhằm tạo chuyển biến căn bản, toàn diện về chất lượng và hiệu quả giáo dục phổ thông. Trả lời phỏng vấn báo Dân trí, ngày 25/8/2015 về “Đổi mới sách giáo khoa sau 2015 như thế nào”, tác giả Nguyễn Vinh Hiển (nguyên Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) khẳng định: Chương trình mới tiếp cận theo hướng hình thành và phát triển năng lực cho người học; không chạy theo khối lượng tri thức mà chú ý khả năng vận dụng tổng hợp các kiến thức, kỹ năng, thái độ, tình cảm, động cơ. vào giải quyết các tình huống trong cuộc sống hàng ngày.
Tiếp cận theo hướng năng lực đòi hỏi học sinh làm, vận dụng được gì hơn là học sinh biết những gì. Tránh tình trạng biết rất nhiều nhưng làm, vận dụng không được bao nhiêu, biết những điều rất cao siêu, nhưng không làm được những việc rất thiết thực đơn giản trong cuộc sống thường nhật. Nội dung dạy học ưu tiên những kiến thức cơ bản, hiện đại nhưng gắn bó, thiết thực với những đòi hỏi của cuộc sống hàng ngày, tránh hàn lâm/kinh viện. Ưu tiên thực hành/vận dụng, tránh lý thuyết suông; tăng cường hứng thú, hạn chế quá tải.
Theo đó, PPDH thay đổi: dạy cách học, cách tìm kiếm và vận dụng, cách phát hiện và giải quyết vấn đề; đề cao sự hợp tác và sáng tạo; không nhồi nhét, chạy theo khối lượng kiến thức. Kiểm tra - đánh giá cũng thay đổi theo 12 hướng: xác nhận đúng năng lực của người học; đánh giá khả năng và hiệu quả vận dụng tổng hợp. Do vậy, dạy học Ngữ văn cần tập trung hình thành cho học sinh phương pháp học. PPDH phải tạo cho học sinh tính hiếu kỳ, tò mò và sự đam mê để họ tự đi tìm và lý giải, qua đó mà hình thành năng lực.
Không nhồi nhét kiến thức, không bắt nhớ máy móc, cần biết quên cái cụ thể, chi tiết; chỉ nhớ cách làm, cách xử lý vấn đề. giúp học sinh tự học, tự khám phá, tự kích thích sáng tạo. Giờ văn học trước hết hãy giúp học sinh niềm yêu thích, say mê văn chương, mong muốn tìm tòi, tìm hiểu cái hay, cái đẹp của thế giới nghệ thuật rồi sau đó mới là những yêu cầu khác. Cùng với những chuyển mình của ngành Giáo dục, đã có nhiều đề tài, công trình nghiên cứu về quản lý đổi mới PPDH nhằm tìm ra những giải pháp tối ưu cho giai đoạn phát triển mới.
Đã có một số đề tài nghiên cứu về quản lý dạy học môn Ngữ văn ở trình độ thạc sĩ như: - "Những biện pháp quản lý của Hiệu trưởng nhằm đổi mới phương pháp dạy học ở các trường THPT tại Quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh” (2006) của tác giả Lê Thành Hiếu; - “Thực trạng và các biện pháp quản lý việc thực hiện phương pháp dạy học tích cực ở các trường THPT tại Quận 11 TP HCM” (2010) của Nguyễn Thị Tân Lương. - “Thực trạng và biện pháp quản lý việc đổi mới phương pháp giảng dạy Tiếng Anh ở các trường THPT tại Quận 6, TP Hồ Chí Minh” (2011) của Bùi Thị Hồng Dung. - “Quản lý đổi mới phương pháp dạy học môn hóa học theo định hướng phát triển năng lực học sinh tại các trường THPT huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam” (2019) của Tô Thị Huyền …. Tóm lại, có rất nhiều tác giả trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã nghiên cứu và đưa ra nhiều biện pháp quản lý hoạt động dạy học trong nhà 13 trường.
Có nhiều luận văn thạc sỹ quan tâm tới biện pháp quản lý đổi mới PPDH với nhiều cách tiếp cận về vấn đề quản lý khác nhau, ở những địa phương khác nhau với phạm vi nghiên cứu rộng, hẹp khác nhau. Tuy nhiên, cho đến nay, vẫn chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu về các biện pháp quản lý đổi mới PPDH Ngữ văn THPT ở các trường THPT trên địa bàn thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định. KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA ĐỀ TÀI 1. Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý trường học 1.
Quản lý Khái niệm quản lý là khái niệm rất chung, tổng quát.