Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động đối ngoại nhân dân của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Chương 2: Thực trạng hoạt động đối ngoại nhân dân tại cơ quan Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Chương 3: Giải pháp tăng cường hoạt động đối ngoại nhân dân tại cơ quan Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam e 10 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI NHÂN DÂN CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM 1. Khái quát chung về hoạt động đối ngoại nhân dân 1. Khái niệm về đối ngoại nhân dân Từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, hoạt động đối ngoại của nước ta gồm đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân được thực hiện dưới sự lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối của Đảng. Đối ngoại nhân dân là khái niệm chỉ những hoạt động đối ngoại có sự tham gia rộng rãi của đoàn thể nhân dân, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp; các cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị ở các cấp không nhân danh Đảng, Nhà nước và Chính phủ; của các nhân sĩ, trí thức, các nhà khoa học, các văn nghệ sĩ, nhà báo, đồng bào các tôn giáo, các dân tộc, các doanh nhân thuộc các thành phần kinh tế; của các tổ chức từ thiện, nhân đạo, bảo vệ môi trường; của nhân dân trong nước và người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Liên hiệp các tổ chức Hữu nghị Việt Nam (2003) cho rằng: “Đối ngoại nhân dân là khái niệm để chỉ các hoạt động đối ngoại không thuộc ngoại giao nhà nước và đối ngoại của Đảng, do các đoàn thể quần chúng, tổ chức chính trị - xã hội, nghề nghiệp và các cá nhân thuộc mọi tầng lớp nhân dân thực hiện”.[17] Nguyễn Thị Thanh Thuỷ (2019) cho rằng: “Đối ngoại nhân dân là những cách thức trong đó một nước hoặc một tổ chức phi chính phủ thiết lập quan hệ với các thành phần phi chính phủ của các nước khác”. [37] Như vậy, đối ngoại nhân dân là một loại hình hoạt động xã hội phổ biến, góp phần quan trọng trong phát triển quan hệ giữa các quốc gia. Cùng với đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại nhân dân là kênh đối ngoại không thể thiếu trong hoạt động đối ngoại của Việt Nam cho đến nay. Đối ngoại nhân dân triển khai hoạt động với các đối tác nước ngoài, do các chủ thể nhân dân tiến hành theo chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.
e 11 Với cách tiếp cận trên, tác giả luận văn cho rằng: Đối ngoại nhân dân là một bộ phận quan trọng trong công tác đối ngoại của nhà nước, do các chủ thể nhân dân thực hiện theo chủ trương, chính sách đối ngoại của Đảng và pháp luật của Nhà nước; đồng thời thực hiện các nhiệm vụ trong lĩnh vực quan hệ với các đối tác nước ngoài ở trong và ngoài nước. Theo khái niệm trên, đối ngoại nhân dân là một nội dung quan trọng trong hoạt động đối ngoại của Đảng Cộng sản và chính phủ Việt Nam, hoạt động theo đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mục tiêu cơ bản của đối ngoại nhân dân là làm cho nhân dân Thế giới hiểu rõ về đất nước và con người Việt Nam, về đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, từ đó tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của các nước đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần tăng cường sự hiểu biết, củng cố tình cảm hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia.
Đối ngoại nhân dân góp phần giữ gìn và quảng bá văn hoá quốc gia trong tiến trình giao lưu quốc tế; tranh thủ sự đồng tình ủng hộ rộng rãi của nhân dân quốc tế trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời tranh thủ mọi sự ủng hộ của nhân dân và kiều bào quốc tế nhằm thúc đẩy xu thế hoà bình, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới. Quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác đối ngoại nhân dân Trong các văn kiện của Đảng ta, đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân luôn luôn được định hướng rõ ràng. Sau Đại hội VI (12/1986), Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 13 về nhiệm vụ và chính sách đối ngoại của nước ta, khẳng định mục tiêu “kiên quyết giữ vững hoà bình, tranh thủ điều kiện bên ngoài thuận lợi và trnh thủ thời gian tập trung những cố gắng cao nhất nhằm từng bước ổn định và tạo cơ sở cho bước phát triển về kinh tế trong vòng 20- 25 năm tới…” [16] và thực hiện phương châm “thêm bạn bớt thù”, chuyển cuộc đấu tranh từ đối đầu sang đấu tranh và hợp tác trong cùng tồn tại hoà bình. Đại hội VII (6/1991), Đảng ta chủ trương “Việt Nam muốn làm bạn với tất e 12 cả các nước trong cộng đồng Thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”.
Trong đối ngoại nhân dân, Đảng nhấn mạnh “mở rộng quan hệ đối ngoại nhân dân; quan hệ với các tổ chức phi chính phủ, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ rộng rãi của nhân dân các nước, góp phần thúc đẩy xu thế hoà bình, hợp tác và phát triển” [16] Đại hội VIII (6/1996) chỉ rõ: “Phát triển quan hệ với các Đảng Cộng sản và công nhân, các lực lượng cách mạng, độc lập dân tộc và tiến bộ; mở rộng quan hệ với các đảng cầm quyền và các đảng khác. Mở rộng quan hệ đối ngoại nhân dân, quan hệ với các tổ chức phi chính phủ, tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ rộng rãi của nhân dân các nước, góp phần thúc đẩy xu thế hoà bình, hợp tác, phát triển” [16] Đại hội IX (2001) tiếp tục làm rõ yêu cầu: “Phối hợp chặt chẽ hoạt động ngoại giao của Nhà nước, hoạt động đối ngoại của Đảng và hoạt động đối ngoại nhân dân. Hoàn thiện cơ chế quản lý thống nhất các hoạt động đối ngoại, tạo thành sức mạnh tổng hợp thực hiện có kết quả nhiệm vụ công tác đối ngoại, làm cho thế giới hiểu rõ hơn đất nước, con người, công cuộc đổi mới của Việt Nam, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và hợp tác ngày càng rộng rãi của thế giới” [16] Đại hội X (2006), Đảng ta đã bổ sung cơ chế quản lý và mối quan hệ phối hợp chặt chẽ giữa ba kênh đối ngoại này: “Bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, sự quản lý tập trung của Nhà nước đối với các hoạt động đối ngoại. Phối hợp chặt chẽ hoạt động đối ngoại của Đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân; chính trị đối ngoại và kinh tế đối ngoại; đối ngoại, quốc phòng và an ninh; thông tin đối ngoại và thông tin trong nước” [16] Tại Đại hội XIII (2021), Đảng ta lần đầu tiên xác định ba trụ cột cấu thành cơ bản của nền ngoại giao toàn diện Việt Nam: “Xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại với ba trụ cột là đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân” [16].
Đây là bước phát triển quan trọng khi vai trò của đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân được đề cao thành ba cấu thành chính của nền ngoại giao toàn diện (thay vì là các thành tố song song cùng các lĩnh vực ngoại giao khác). Đồng thời, ba trụ cột này được đặt trong một chỉnh thể thống nhất e 13 là nền ngoại giao toàn diện, vừa có tính độc lập tương đối, vừa hỗ trợ lẫn nhau, vì mục tiêu chung là lợi ích quốc gia - dân tộc. Như vậy, có thể thấy qua các kỳ Đại hội, tư duy của Đảng ta về ba trụ cột đối ngoại đã liên tục được phát triển, hoàn chỉnh, phù hợp với quan điểm về triển khai đồng bộ, phối hợp chặt chẽ đối ngoại Đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân là phù hợp với quy luật khách quan, tình hình quốc tế cũng như các điều kiện cụ thể của cách mạng nước ta qua từng giai đoạn. Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác đối ngoại nhân dân Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại kho tàng lý luận, khoa học và tư tưởng cách mạng quý giá.
Trong đó, tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác ngoại giao nói chung và công tác đối ngoại nhân dân bao gồm những quan điểm sâu sắc, toàn diện của Người về quốc tế với những biện pháp, hình thức và nghệ thuật xử sự trong quan hệ trong nước và quốc tế nhằm phục vụ sự nghiệp cách mạng của nước ta trong từng thời kỳ, từng hoàn cảnh. Theo tư tưởng của Người, “đối ngoại nhân dân thực chất là công tác dân vận, vận động các đối tượng quần chúng nhân dân trong và ngoài nước đồng tình, ủng hộ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Công tác đối ngoại nhân dân là một bộ phận hợp thành của công tác đối ngoại chung, phối hợp và phục vụ công tác đối ngoại của Đảng và ngoại giao Nhà nước cùng thực hiện nhiệm vụ, đường lối và chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước. Lợi thế của đối ngoại nhân dân là có tiếng nói linh hoạt giữa con người với con người vừa có thể tiến hành các biện pháp đối ngoại trên một số vấn đề và ở những nước, khu vực trong những hoàn cảnh cụ thể mà đối ngoại Đảng và ngoại giao Nhà nước không có điều kiện làm hoặc nếu làm thì không thuận lợi như mong muốn” [14] Người chỉ rõ ba nguồn gốc chủ yếu của công tác đối ngoại nhân dân là: i) Bản sắc, truyền thống của dân tộc và truyền thống ngoại giao của nước ta; ii) Tinh hoa và văn hoá của phương Đông, phương Tây và của nhân loại; iii) Kinh nghiệm thực tiễn trong công tác đối ngoại của Người.
Hiện nay, dưới các góc độ nghiên cứu khác nhau, có nhiều tác giả đưa ra e 14 những nội dung cơ bản về tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác đối ngoại nhân dân. Tác giả luận văn đồng nhất với tác giả Q.H (2015) với 05 nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác đối ngoại nhân dân, cụ thể như sau: Thứ nhất, thêm bạn bớt thù, đoàn kết nhân dân trong nước gắn liền với đoàn kết nhân dân thế giới vì lợi ích chân chính của nhân dân ta và nhân dân thế giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ phải “làm cho nước mình ít kẻ thù hơn hết và nhiều bạn đồng minh hơn hết”.