Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG BÀO CHỮA TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ 1. Những vấn đề lý luận về hoạt động bào chữa trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 1. Khái niệm, đặc điểm hoạt động bào chữa trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 1. Khái niệm hoạt động bào chữa trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Để xây dựng và đưa ra được khái niệm của hoạt động bào chữa của luật sư bào chữa và người bị buộc tội trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thì cần nhận thức một cách đầy đủ nội hàm các khái niệm có liên quan như: khái niệm bào chữa, khái niệm hoạt động bào chữa, khái niệm giai đoạn xét xử sơ thẩm, khái niệm vụ án hình sự.
Điều đó cũng đồng nghĩa việc làm rõ các khái niệm trên để có cách nhìn bao quát và đưa ra được khái niệm của hoạt động bào chữa trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Khái niệm bào chữa Đã từ lâu khái niệm “bào chữa” đã được ghi nhận là quyền hiến định của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự. Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ công hòa năm 1946 tại Điều 67 đã quy định “ Người bị cáo được tự bào chữa hoặc nhờ luật sư”. Điều 5 Sắc lệnh ngày 13/9/1945 về thiết lập các Tòa án quân sự quy định “bị cáo có thể tự bào chữa hay nhờ một người khác bênh vực cho”.
Quy định về bào chữa cũng đã được thể hiện và thực hiện một cách xuyên suốt trong các Bộ luật tố tụng hình sự của Việt Nam, ngày từ khi bắt đầu có BLTTHS năm 1988 thì “bào chữa” đã được mở rộng cho cả đối với bị can chứ không dừng lại là đối với bị cáo. Đến BLTTHS năm 2003, BLTTHS năm 2015 cũng tiếp tục quy định “bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa”. Tuy nhiên, hiện nay trong khoa học pháp lý cũng như thực tiễn còn có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm “bào chữa”. Nếu được hiểu theo nghĩa rộng thì “bào chữa” có các quan điểm như sau: Theo Từ điển Tiếng Việt: “Bào chữa là dùng lý lẽ và chứng cứ để bênh vực cho đương sự nào đó thuộc vụ án hình sự hay dân sự trước tòa án hoặc cho một việc làm đang bị lên án”[25, tr.
Hay bào chữa là dùng 7 lời lẽ, chứng cớ để bênh vực một bên [25, tr. Còn “Tự bào chữa là tự mình thực hiện …” [25, tr. Còn hiểu “bào chữa” là một khái niệm khoa học pháp lý thì cũng còn có nhiều quan điểm khác nhau như: “bào chữa là toàn bộ những hành vi tố tụng nhằm xác định sự vô tội của bị cáo hoặc giảm nhẹ trách nhiệm cho họ gọi là sự bào chữa” [41, tr. Bên cạnh đó, khái niệm bào chữa còn được hiểu: “Bào chữa là quyền của bị can, bị cáo được đưa ra các chứng cứ, lý lẽ, được đặt câu hỏi, được tranh luận trong giai đoạn điều tra và giai đoạn xét xử” [22, tr.27] hay “Bào chữa là việc dùng lý lẽ, chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị can, bị cáo” [23].
Ngoài ra, tác giả người nước ngoài Ph.Phatkulin trong cuốn “Buộc tội và bào chữa trong vụ án hình sự” cũng đưa ra khái niệm: “ Bào chữa trong tố tụng hình sự không chỉ là tổng hoà các hành vi tố tụng hướng tới việc bác bỏ sự buộc tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm mà còn là tổng hoà các mối quan hệ tố tụng nhằm tới mục đích làm cho tình trạng của người bị buộc tội tốt hơn và bảo đảm các quyền và lợi ích của người đó trong vụ án” [43]. Tác giả Ngô Thị Ngọc Vân cũng đưa ra khái niệm bào chữa như sau: “Bào chữa là tổng hoà các hành vi do người bị buộc tội hoặc người bào chữa của họ thực hiện trên cơ sở phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự nhằm phủ nhận một phần hay toàn bộ sự buộc tội của các cơ quan tiến hành tố tụng, làm giảm nhẹ hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội trong vụ án hình sự”. Các quan điểm trên nhìn chung đã đưa ra được khái niệm “bào chữa” một cách tổng quát và đều xuất phát từ nội dung bào chữa là việc dùng lí lẽ, chứng cứ để biện minh hoặc bênh vực cho hành vi của người nào đó. Tuy các khái niệm trên còn chưa đầy đủ, cụ thể nhưng nhìn chung các khái niệm đã chỉ rõ bản chất của việc bào chữa là những hoạt động chống lại việc buộc tội.
Như vậy, theo quan điểm của tác giả thì: Bào chữa là hoạt động tố tụng của người bị buộc tội, người bào chữa dùng những lý lẻ, chứng cứ để chống lại sự buộc tội, làm giảm nhẹ hoặc loại trừ trách nhiệm hình sự, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội trong vụ án hình sự. Khái niệm hoạt động bào chữa Cũng như khái niệm “bào chữa” thì khái niệm “hoạt động” hiện nay trong thực tiễn cũng như trong lý luận khoa học đang còn có nhiều cách hiểu khác nhau. Theo Từ điển Tiếng Việt: “Hoạt động là tiến hành những việc làm có quan hệ chặt chẽ với nhau nhằm một mục đích nhất định trong đời sống xã hội” [24]. 8 Theo giáo trình tâm lý học đại cương, Nhà xuất bản Đại học sư phạm về cấu trúc của hoạt động thì: “Cấu trúc tâm lý của hoạt động là phương thức hoạt động bao gồm 6 thành tố: động cơ, mục đích, điều kiện, hoạt động, hành động, thao tác”.
Sáu thành tố vừa kể trên cùng với mối quan hệ qua lại giữa chúng tạo thành cấu trúc vĩ mô của hoạt động. Các mối quan hệ này không sẵn có, mà là sản phẩm nảy sinh trong sự vận động của hoạt động và được chia thành hai hàng. Hàng thứ nhất là động cơ – mục đích – điều kiện, thể hiện nội dung, tính chất của hoạt động. Hàng thứ hai là hoạt động – hành động – thao tác, thể hiện phương thức và các đơn vị thực hiện hoạt động [13].
Như vậy, hoạt động được hiểu là tổng thể những việc làm (hành vi, thao tác, động cơ) có quan hệ với nhau nhằm một mục đích nhất định. Cơ sở làm phát sinh hoạt động bào chữa trong tố tụng hình sự nói chung và trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói riêng chính là quyền bào chữa của người bị buộc tội (bao gồm: người bị bắt, tạm giữ, bị can, bị cáo). Một trong những quyền được xem là quyền con người đó là người bị buộc tội có quyền đưa ra các bằng chứng, căn cứ chứng minh về sự không có lỗi hoặc giảm chịu trách nhiệm hình sự trước cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Đó được coi là nội dung của quyền bào chữa trong tố tụng hình sự.
Quyền bào chữa của người bị buộc tội bao gồm quyền tự bào chữa và quyền nhờ người khác bào chữa. Người khác bào chữa ở đây bao gồm: Luật sư; Người đại diện của người bị buộc tội; Bào chữa viên nhân dân; Trợ giúp viên pháp lý trong trường hợp người bị buộc tội thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý. Trong phạm vi bài luận văn tác giả chỉ đề cập đến hoạt động bào chữa của người bào chữa là luật sư. Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm quyền bào chữa: Theo Giáo trình Luật tố tụng hình sự thì “Quyền bào chữa là tất cả các quyền mà pháp luật quy định để chống lại sự buộc tội” [14, tr.
Hay “Quyền bào chữa là tổng hợp các hành vi tố tụng của bị can, bị cáo trên cơ sở phù hợp với các quy định của pháp luật nhằm đưa ra chứng cứ để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước các cơ quan tiến hành tố tụng” [6, tr. Theo tác giả Võ Khánh Vinh: “Quyền bào chữa là tổng hợp các quyền tố tụng tạo khả năng cho bị can, bị cáo bào chữa về hành vi do mình thực hiện đã bị buộc tội và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp khác” [41, tr. Tác giả Phạm Hồng Hải: “Trong tố tụng hình sự, quyền bào chữa chỉ xuất hiện ở chỗ mà ở đó có sự buộc tội và quyền bào chữa thuộc về người nào khi người đó bị buộc tội” [16, tr. 9 Từ những phân tích trên cho thấy: Hoạt động bào chữa được hiểu là tất cả những việc mà pháp luật tố tụng hình sự cho phép người bị buộc tội, người bào chữa thực hiện nhằm bác bỏ một phần hoặc toàn bộ sự buộc tội, chứng minh sự vô tội, giảm nhẹ tội hoặc để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp khác của người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can và bị cáo trong vụ án hình sự.
Khái niệm vụ án hình sự Hiện nay, khái niệm “vụ án hình sự” chưa có tác giả nào đưa ra khái niệm một cách rõ ràng, cụ thể, đầy đủ. Tuy nhiên, theo quy định của BLTTHS thì khái niệm vụ án hình sự được hiểu như sau: Vụ án hình sự được bắt đầu từ khi phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm khởi tố vụ án xác định tội phạm và xử lý người phạm tội, pháp nhân phạm tội [31]. Một vụ án hình sự thông thường bao gồm 05 giai đoạn tố tụng: khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. Khi bị khởi tố vụ án, khởi tố bị can thì cá nhân, pháp nhân bị khởi tố đó có thể sẽ bị cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn: giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh, đặt tiền để bảo đảm hoặc các biện pháp cưỡng chế như: áp giải, dẫn giải, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản.
Trong một vụ án hình sự được giải quyết thì bắt buộc có một hệ thống cơ quan tư pháp chặt chẽ, đầy đủ và mỗi cơ quan thực hiện một chức năng riêng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự đó. Các cơ quan đó gọi chung là cơ quan tiến hành tố tụng trong vụ án.