Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán quản trị chi phí sản xuất trong doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng kế toán quản trị chi phí sản xuất tại Công ty cổ phần Năng lượng sinh học Phú Tài. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản xuất tại Công ty cổ phần Năng lượng sinh học Phú Tài. e 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 1.
Bản chất, vai trò, yêu cầu và nguyên tắc của kế toán quản trị chi phí sản xuất 1.1 Bản chất và vai trò Kế toán là việc thu thập, xử l , kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dƣới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động. Kế toán ở đơn vị bao gồm kế toán tài chính và kế toán quản trị. Kế toán tài chính là việc thu thập, xử l , kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính bằng báo cáo tài chính cho đối tƣợng có nhu cầu sử dụng thông tin của đơn vị kế toán. Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán.
Kế toán quản trị nhằm cung cấp các thông tin về hoạt động nội bộ của doanh nghiệp, nhƣ: Chi phí của từng bộ phận (trung tâm chi phí), từng công việc, sản phẩm; Phân tích, đánh giá tình hình thực hiện với kế hoạch về doanh thu, chi phí, lợi nhuận; quản l tài sản, vật tƣ, tiền vốn, công nợ; Phân tích mối quan hệ giữa chi phí với khối lƣợng và lợi nhuận; Lựa chọn thông tin thích hợp cho các quyết định đầu tƣ ngắn hạn và dài hạn; Lập dự toán ngân sách sản xuất, kinh doanh nhằm phục vụ việc điều hành, kiểm tra và ra quyết định kinh tế. Kế toán quản trị là công việc của từng doanh nghiệp, Nhà nƣớc chỉ hƣớng dẫn các nguyên tắc, cách thức tổ chức và các nội dung, phƣơng pháp kế toán quản trị chủ yếu tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp thực hiện. Doanh nghiệp không bắt buộc phải công khai các thông tin về kế toán quản trị trừ trƣờng hợp pháp luật có quy định khác. Theo thông tƣ số 53/2006/TT-BTC, Kế toán quản trị bao gồm sáu bộ e 9 phần chính: (1) Kế toán quản trị chi phí và giá thành sản phẩm; (2) Kế toán quản trị bán hàng và xác định kết quả kinh doanh; (3) Mối quan hệ giữa chi phí, khối lƣợng và lợi nhuận; (4) Lựa chọn thông tin thích hợp cho việc ra quyết định; (5) Lập dự toán ngân sách sản xuất kinh doanh và (6) Kế toán quản trị một số khoản mục khác (kế toán quản trị TSCĐ, kế toán quản trị hàng tồn kho, kế toán quản trị lao động và tiền lƣơng và kế toán quản trị các khoản nợ).
Ngƣời đảm nhận nhiệm vụ kế toán quản trị là thành viên của ban quản l doanh nghiệp và là nhân viên kế toán có trách nhiệm cung cấp thông tin cho các thành viên còn lại những thông tin hữu ích cho trách nhiệm của họ. Các nhà quản l sẽ lập kế hoạch hoạt động tƣơng lai, kết hợp các kế hoạch với nhau, tổ chức và kiểm soát hoạt động, nghiên cứu và đánh giá kết quả và hành động để ngăn chặn sai sót, tất cả là để tối đa hóa lợi nhuận của công ty. Ở tất cả các bƣớc, những chuyên gia kế toán sẽ giúp để cải thiện sự thể hiện của doanh nghiệp. Các nhân viên kế toán quản trị không thực hiện các quyết định kinh doanh, nhƣng các báo cáo kế toán chi phí họ cung cấp và những lời khuyên họ cho dựa trên các báo cáo này sẽ hỗ trợ quá trình ra quyết định với lợi ích cho giá trị của các quyết định đƣợc ban quản l đƣa ra.
Kế toán quản trị chi phí là hệ thống các kỹ thuật khi đó các giao dịch đƣợc ghi chép, và đƣợc xác định một cách chắc chắn, phân loại và phân bổ cho sản phẩm hoặc các hoạt động bên trong doanh nghiệp. Cho nên, chi phí của nhiều hoạt động có thể đƣợc công bố và trừ khỏi doanh thu để đo lƣờng chi tiết lợi nhuận. Kế toán quản trị chi phí là nghiên cứu của các kế toán quản trị viên dùng để tạo ra các con số có nghĩa, để đƣa vào các báo cáo cho các nhà quản l. Sự ra đời và phát triển của kế toán quản trị là kết quả tất yếu nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin của nhà quản trị doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trƣờng e 10 luôn biến động và nhiều rủi ro.
Mặc dù, ra đời sau kế toán tài chính nhƣng kế toán quản trị ngày càng chứng tỏ sự cần thiết và có vai trò đặc biệt quan trọng đối với công tác quản trị và điều hành doanh nghiệp (Huỳnh Văn Lợi, 2007). KTQT chi phí sản xuất là một bộ phận của hệ thống kế toán quản trị nhằm cung cấp thông tin về chi phí để mỗi tổ chức thực hiện chức năng quản trị yếu tố nguồn lực tiêu dùng cho các hoạt động, nhằm xây dựng kế hoạch, kiểm soát, đánh giá hoạt động và ra các quyết định hợp l. KTQT chi phí sản xuất cung cấp bao gồm cả những thông tin quá khứ và thông tin có tính dự báo thông qua việc lập kế hoạch và dự toán trên cơ sở định mức chi phí. Kế toán quản trị chi phí sản xuất với chức năng quản trị chi phí doanh nghiệp: KTQT chi phí sản xuất cung cấp thông tin chi phí phục vụ cho các chức năng quản l.
- Lập kế hoạch và dự toán. Để xây dựng kế hoạch nhà quản trị thƣờng phải dự đoán, phán đoán kết quả của các chỉ tiêu kinh tế sẽ xảy ra dựa trên những cơ sở khoa học có sẵn. Trong quá trình xây dựng, nhà quản trị thƣờng phải liên kết các chỉ tiêu kinh tế với nhau để thấy rõ sự tác động về nguyên nhân và kết quả sẽ xảy ra trong tƣơng lai. Lập kế hoạch là xây dựng các mục tiêu phải đạt và vạch ra các bƣớc thực hiện để đạt đƣợc những mục tiêu đó.
Các kế hoạch này có thể là kế hoạch dài hạn, ngắn hạn. Dự toán cũng là một loại kế hoạch nhằm liên kết các mục tiêu và chỉ rõ cách huy động, sử dụng các nguồn lực để đạt các mục tiêu đề ra. Kế toán quản trị thu thập thông tin thực hiện (quá khứ) và những thông tin liên quan đến tƣơng lai (thông tin dự đoán, dự tính) để phục vụ cho việc lập kế hoạch, dự toán. Hàng năm, các doanh nghiệp xây dựng kế hoạch tổng thể về tiêu thụ và sản xuất chi tiết cho từng qu trong năm dựa trên số liệu về tiêu thụ của năm e 11 trƣớc và dự báo tình hình tiêu thụ của năm sau.
Từ dự toán kế hoạch tiêu thụ và sản xuất kết hợp với định mức nhân công và định mức tiêu hao vật tƣ kế toán sẽ lập dự toán các loại chi phí sản xuất nhƣ: Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, dự toán chi phí nhân công trực tiếp, dự toán chi phí SXC. - Tổ chức thực hiện. Trong việc tổ chức, nhà quản l sẽ quyết định cách liên kết tốt nhất giữa tổ chức, con ngƣời với các nguồn lực lại với nhau sao cho kế hoạch đƣợc thực hiện có hiệu quả nhất. Trong việc điều hành, các nhà quản l giám sát hoạt động hàng ngày và giữ cho cả tổ chức hoạt động trôi chảy.
Kế toán quản trị có vai trò thu thập và cung cấp các thông tin đã và đang thực hiện để phục vụ cho việc ra quyết định (nhƣ các quyết định ngắn hạn: quyết định loại bỏ hoặc tiếp tục duy trì kinh doanh một bộ phận nào đó, quyết định tự sản xuất hay mua, quyết định nên bán ngay nửa thành phẩm hay tiếp tục chế biến… hoặc các quyết định tài sản dài hạn khác…) Ngoài ra còn thu thập thực hiện phục vụ cho việc kiểm tra đánh giá sau này. - Kiểm tra và đánh giá. Kiểm tra và đánh giá là việc đối chiếu, so sánh giữa doanh thu, chi phí thực hiện với các kế hoạch và dự toán đã đặt ra, qua đó phát hiện những điểm mạnh và những hạn chế để có chính sách khen thƣởng, động viên và chế tài kịp thời. Với yêu cầu đánh giá cho từng cá nhân, từng đơn vị, từng bộ phận trong quá trình kinh doanh, việc tổ chức dữ liệu cho đánh giá và kiểm tra phải đƣợc thực hiện chi tiết.
Đây là một công việc đòi hỏi phải có sự kết hợp giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị. - Ra quyết định. Ra quyết định là việc thực hiện những lựa chọn hợp l trong số các phƣơng án khác nhau. Ra quyết định không phải là một chức năng riêng biệt, nó là một chức năng quan trọng, xuyên suốt các khâu trong quá trình quản l e 12 một tổ chức, từ khâu lập kế hoạch, tổ chức thực hiện cho đến kiểm tra đánh giá.
Chức năng ra quyết định đƣợc vận dụng liên tục trong suốt quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Tất cả các quyết định đều có nền tảng từ thông tin. Do vậy, một yêu cầu đặt ra cho công tác kế toán, đặc biệt là kế toán quản trị là phải đáp ứng nhu cầu thông tin nhanh, chính xác cho nhà quản l nhằm hoàn thành tốt việc ra quyết định. Nhƣ chúng ta đã biết, kế toán tài chính chủ yếu phục vụ nhu cầu bên ngoài doanh nghiệp.
KTQT cung cấp thông tin nội bộ cho nhà quản trị doanh nghiệp. Nhƣ vậy, KTQT chi phí sản xuất không ghi nhận chi phí nhƣ kế toán tài chính, KTQT chi phí sản xuất đƣợc ghi nhận theo nhiều chiều hƣớng khác nhau để đáp ứng nhu cầu thông tin trong hoạch định, thực hiện, kiểm soát và ra quyết định. KTQT chi phí sản xuất sẽ trả lời câu hỏi chi phí sẽ là bao nhiêu, thay đổi nhƣ thế nào khi có sự thay đổi về sản lƣợng sản xuất, ai phải chịu trách nhiệm giải thích về những thay đổi bất lợi của chi phí và giải pháp cần đƣa ra để điều chỉnh chi phí cho phù hợp với tình hình sản xuất kinh doanh. Yêu cầu và nguyên tắc Thông tin của KTQT chi phí sản xuất chủ yếu là thông tin mang tính dự báo nên khó chính xác tuyệt đối, do vậy ngƣời làm công tác kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp cần phải tuân thủ những yêu cầu và nguyên tắc này để đảm bảo số liệu đƣợc chính xác, bám sát đƣợc tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.