Chương I: Nhà văn Jon Krakauer và tiểu thuyết Tìm trong hoang dã Chương II: Hành trình đi tìm lý tưởng của Christopher Johnson McCandless trong tiểu thuyết Tìm trong hoang dã Chương III: Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết Tìm trong hoang dã. 5 NỘI DUNG Chương Một: Nhà văn Jon Krakauer và tiểu thuyết Tìm trong hoang dã 1. Cách nhìn về hình tượng nhân vật trong tiểu thuyết Khái niệm về nhân vật Nhân vật trong tác phẩm văn học là đứa con tinh thần của mỗi nhà văn. Là nơi tác giả gửi gắm tư tưởng, tình cảm của mình.
Cho nên mỗi nhà văn đều cố gắng xây dựng cho mình một nhân vật mới lạ, độc đáo, in đậm dấu ấn cá tính sáng tạo của mình. Khái niệm nhân vật được các nhà nghiên cứu quan tâm và đưa ra nhiều cách hiểu khác nhau. Ở đề tài này, chúng tôi xin giới thiệu cách quan niệm về nhân vật của GS.Trần Đình Sử, Phương Lựu, Nguyễn Xuân Nam trong cuốn Lí luận văn học - tập hai “Tác phẩm văn học và thể loại”, nhà xuất bản Giáo dục 1987: “Nhân vật văn học là con người được miêu tả trong văn học bằng phương tiện văn học. Nhân vật có thể được thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau.
Đó có thể là những con người được miêu tả đầy đặn cả ngoại hình lẫn nội tâm, có tính cách, tiểu sử như thường thấy trong tác phẩm tự sự, kịch. Đó có thể là những con người thiếu hẳn các nét đó nhưng lại có tiếng nói, giọng điệu, cái nhìn như nhân vật người trần thuật, hoặc chỉ có cảm xúc, nỗi niềm, ý nghĩ, cảm nhận như nhân vật trữ tình trong thơ trữ tình” [11, tr. Văn học không thể thiếu nhân vật, bởi vì đó là hình thức cơ bản để thông qua đó văn học miêu tả thế giới một cách hình tượng. Bản chất của văn học là mối quan hệ đối với đời sống, nó chỉ tái hiện được đời sống qua những chủ thể nhất định, đóng vai trò như những tấm gương của cuộc đời.
Nhân vật văn học là một hiện tượng nghệ thuật ước lệ, có những dấu hiệu để ta nhận ra. Thông qua những cái tên, các dấu hiệu về tiểu sử và sâu hơn là các đặc điểm về tính cách. 6 Nhân vật văn học được bộc lộ trong hành động và quá trình. Nó luôn hứa hẹn những điều sẽ xảy ra, những điều chưa biết trong quá trình giao tiếp.
Đồng thời nhân vật trong văn học mang tính chất hồi cổ. Bởi vì mỗi bước phát triển đều làm nhớ lại công thức nhận biết ban đầu, đều làm cho nó sâu thêm hoặc điều chỉnh cho nó xác đáng, nhưng không bao giờ bỏ quên hay xa rời cái chuẩn ban đầu. “Như vậy, nhân vật văn học là con người được thể hiện bằng phương tiện văn học. Nó có chức năng khái quát những quy luật của cuộc sống con người, thể hiện những hiểu biết, những ước ao, kỳ vọng về con người.
Nhà văn sáng tạo nhân vật là để thể hiện những cá nhân xã hội nhất định và quan niệm về các cá nhân đó. Nói cách khác, nhân vật là phương tiện khái quát tính cách, số phận con người và các quan niệm về chúng” [11, tr. Tóm lại, nhân vật văn học là hình thức khái quát đời sống. Đọc tác phẩm, cần tìm hiểu hết nội dung đời sống và nội dung tư tưởng thể hiện trong nhân vật.
Khái niệm về hình tượng nghệ thuật Cho đến nay, có khá nhiều định nghĩa về hình tượng nghệ thuật và những biểu hiện của nó. Ở đây, chúng tôi chọn và giới thiệu một số quan điểm của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học: Văn học là nghệ thuật của ngôn từ và nó dựa vào hình tượng để phản ánh thế giới khách quan, thông qua sự phản ánh của thế giới khách quan cũng thể hiện sự sáng tạo của người nghệ sỹ. Khác với các nhà khoa học, nghệ sỹ không diễn tả trực tiếp ý nghĩ và tình cảm bằng khái niệm trừu tượng, bằng định lý, công thức mà bằng hình tượng. Nghĩa là bằng cách làm sống dậy một cách cụ thể và gợi cảm những sự việc, những hiện tượng đáng làm cho chúng ta suy nghĩ về tính cách, về tình đời một cách cụ thể.
7 “Hình tượng nghệ thuật chính là cái khách thể đời sống được nghệ sỹ tái hiện bằng tư tưởng sáng tạo trong những tác phẩm nghệ thuật. Giá trị trực quan độc lập là đặc điểm quan trọng của hình tượng nghệ thuật. Bằng chất liệu cụ thể nó có thể làm cho người ta có thể ngắm nghía, thưởng ngoạn, tưởng tượng. Đó có thể là một đồ vật, một phong cảnh thiên nhiên hay một sự kiện xã hội được cảm nhận.
Hình tượng có thể tồn tại qua chất liệu vật chất nhưng giá trị của nó là ở phương diện tinh thần. Nhưng nói tới hình tượng nghệ thuật người ta thường nghĩ ngay đến hình tượng con người bao gồm tất cả một tập thể người như hình tượng nhân dân, hình tượng Tổ quốc và những chi tiết biểu hiện tình cảm phong phú” [2, tr. Nhóm tác giả này còn cho rằng::“Hình tượng nghệ thuật tái hiện đời sống nhưng không phải sao chép những hiện tượng y nguyên mà có chọn lọc, sáng tạo thông qua trí tưởng tượng và tài năng của người nghệ sỹ, sao cho các hình tượng truyền lại được ấn tượng sâu sắc, từng làm cho nghệ sỹ day dứt, trăn trở cho người khác. Hình tượng nghệ thuật vừa có giá trị thể hiện những nét cụ thể, cá biệt không lặp lại, vừa khái quát làm bộc lộ bản chất của một người hay một quá trình đời sống theo quan niệm của nghệ sỹ.
Hình tượng nghệ thuật không phải phản ánh cái khách thể thực tại tự nó, mà thể hiện toàn bộ quan niệm và cảm thụ sống động của chủ thể đối với thực tại. Người đọc không chỉ thưởng thức bức tranh hiện thực mà còn thưởng thức các nét vẽ, màu sắc, cả nụ cười, sự suy tư ẩn trong bức tranh ấy” [2, tr. Từ điển văn học bộ mới lại định nghĩa theo một cách khác: “Hình tượng nghệ thuật là phương thức chiếm lĩnh và tái tạo hiện thực riêng biệt vốn có và chỉ có ở nghệ thuật, bất cứ hiện tượng nào được miêu tả một cách sáng tạo nghệ thuật. Thông thường và quan trọng nhất là hình tượng con người, hình tượng nhân vật.
Hình tượng nghệ thuật có sự hòa trộn nhân tố nhận thức khách thể và nhân tố sáng tạo chủ thể” [5, tr. 8 Khác với các loại hình nghệ thuật khác, văn học lấy ngôn từ làm chất liệu để xây dựng hình tượng. Hình tượng nghệ thuật chính là hình tượng ngôn từ. Thông qua đó, tác phẩm đem đến cho người đọc “Không phải là bức tranh đời sống đứng yên mà nó luôn sống động, lung linh, huyền ảo vừa vô hình vừa hữu hình, cụ thể đấy mà mơ hồ đấy như mặt trăng đáy nước, bóng người trong gương, như không gian vốn ba chiều nay vốn thu lại trong không gian hai chiều của hội họa, như một mái chèo trên hai thước chiếu sân khấu mà tác giả đã vẫy vùng trước đại dương” [3, tr.
Dù định nghĩa theo cách nào thì cũng phải lưu ý rằng hình tượng nghệ thuật là cách tái hiện đời sống của nhân vật một cách đặc biệt. Nó vừa mang những nét rất thật nhưng đôi lúc nhà văn cũng có sự hư cấu, sáng tạo thêm nhằm tạo cho độc giả nhiều cách tiếp cận mới mẻ. Một điều nữa là không phải tác phẩm văn học nào cũng có hình tượng văn học. Và không phải nhân vật nào trong tác phẩm văn học đều trở thành hình tượng nhân vật.
Mà nhân vật phải điển hình trong những hoàn cảnh điển hình. Nghĩa là nhân vật ấy phải khái quát những nét chung của tầng lớp, giai cấp mà mình đại diện. Cách nhìn về hình tượng nhân vật trong tiểu thuyết “Tiểu thuyết là hình thức tự sự cỡ lớn đặc biệt phổ biến trong thời cận đại và hiện đại. Với những giới hạn rộng rãi trong hình thức trần thuật, tiểu thuyết có thể chứa đựng lịch sử của nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục đạo đức xã hội, miêu tả cụ thể các điều kiện sinh hoạt giai cấp, tái hiện nhiều tính cách đa dạng”[8, tr.
Hay nói khác hơn: Tiểu thuyết thể loại lớn tiêu biểu cho loại hình tự sự, có khả năng tổng hợp nhiều nhất các khả năng nghệ thuật của các lọai hình văn học khác. Với đặc trưng thi pháp của mình, bằng phương thức trần thuật, tiểu thuyết chiếm lĩnh và khái quát hiện thực cuộc sống một cách đa chiều và phong phú. 9 Trong tiểu thuyết, nhân vật có vị trí rất quan trọng, là then chốt của cốt truyện, giữ vị trí trung tâm trong việc thể hiện đề tài, chủ đề và tư tưởng tác phẩm vì thế nó rất được coi trọng và xem như là một tiêu chí quan trọng khi đánh giá tác phẩm. Nghiên cứu về nhân vật chính là nghiên cứu cách nhìn của nhà văn, cách cắt nghĩa về con người như thế nào trong sáng tác của mình.
Bởi lẽ, nhà văn sáng tạo nhân vật để thể hiện nhận thức của mình về một cá nhân nào đó, về một vấn đề nào đó trong hiện thực. Nhân vật chính là người dẫn dắt người đọc vào một thế giới riêng của đời sống trong một thời kì nhất định. Xét từ góc độ trần thuật nhân vật là một chất liệu có tính bản thể của văn bản tự sự. Chất liệu đó có thể được soi chiếu từ nhiều góc độ khác nhau.
Song dù ở góc độ nào, đó vẫn là một hệ thống có mối quan hệ nội tại và thống nhất sâu sắc của tác phẩm tự sự. Với những người nghiên cứu tiểu thuyết, đây cũng là một vùng đất mới lạ và hấp dẫn. Nhân vật trong tiểu thuyết thường được xây dựng từ cuộc sống, mang sức sống thực của cuộc đời, giàu chi tiết chân thực nên các nhân vật sinh động và có sinh lực nội tại dồi dào, phong phú. Nhân vật trong tiểu thuyết phát triển có quá trình, tham gia vào nhiều tình huống, nhiều hành động khác nhau nên có khả năng, có sức sống và tự nó biết tự tìm lấy con đường đi trong tác phẩm.
Nhân vật trong tiểu thuyết thường được miêu tả theo nhiều bình diện từ ngoại hình, nội tâm, tính cách. Vũ Bằng đã từng quan niệm: “Họ cũng là những người như chúng ta, không hơn không kém, có một trí óc thông minh nhưng lại rất có thể sa vào hầm tội lỗi.