Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Cơ sở lý luận về kiểm toán các khoản ước tính kế toán Chương 3: Tổng quan về Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn Chuẩn Việt Chương 4: Thực trạng quy trình kiểm toán các ước tính kế toán tại Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn Chuẩn Việt Chương 5: Nhận xét và kiến nghị 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TOÁN CÁC KHOẢN ƢỚC TÍNH KẾ TOÁN 2.1 Giới thiệu về ƣớc tính kế toán 2.1 Khái niệm ƣớc tính kế toán Theo Chuẩn mực kế toán số 29 (VAS 29) - Thay đổi chính sách kế toán, ước tính kế toán và các sai sót: “Ước tính kế toán là một quá trình xét đoán dựa trên những thông tin tin cậy nhất và mới nhất tại thời điểm đó”. Theo Chuẩn mực kiểm toán số 540 (VSA 540) - Kiểm toán các ước tính kế toán (bao gồm ước tính kế toán về giá trị hợp lý và các thuyết minh liên quan): “Ước tính kế toán là một giá trị tiền tệ gần đúng trong trường hợp không có phương pháp đo lường chính xác”. Nói một cách cụ thể hơn thì ước tính kế toán là một giá trị gần đúng của một chỉ tiêu liên quan đến Báo cáo tài chính được ước tính trong trường hợp thực tế đã phát sinh nhưng chưa có số liệu chính xác hoặc chưa có phương pháp tính toán chính xác hơn hoặc một chỉ tiêu thực tế chưa phát sinh nhưng đã được ước tính để lập Báo cáo tài chính.2 Phân loại về các khoản ƣớc tính kế toán a/ Theo mục đích Các ước tính kế toán trên BCTC được chia thành 2 nhóm: Ước tính kế toán nhằm bù đắp tổn thất tài sản, gồm có: khấu hao TSCĐ, chi phí trả trước, các khoản dự phòng tổn thất tài sản. Ước tính kế toán nhằm dự phòng khả năng phát sinh nợ phải trả: chi phí phải trả, các khoản dự phòng phải trả.
b/ Theo căn cứ đo lường Theo tiêu chí này, các ước tính kế toán có thể được chia thành 2 nhóm: Ước tính kế toán về giá trị hợp lý, ví dụ như việc ghi nhận một nghiệp vụ trao đổi tài sản giữa các bên độc lập hay trường hợp ghi nhận các tài sản, nợ phải trả khi sáp nhập doanh nghiệp. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ước tính kế toán dựa trên căn cứ khác như trích khấu hao TSCĐ, dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng nợ phải thu khó đòi. c/ Theo thời điểm phát sinh của chỉ tiêu được ước tính Ước tính chỉ tiêu đã phát sinh: là một ước tính gần đúng của một chỉ tiêu liên quan đến BCTC được ước tính trong trường hợp thực tế đã phát sinh nhưng chưa có số liệu chính xác hoặc chưa có phương pháp chính xác hơn. Ví dụ: dự phòng phải thu khó đòi, dự phòng giảm giá HTK, chi phí trả trước, trích khấu hao TSCĐ.
Ước tính chỉ tiêu chưa phát sinh: là một ước tính gần đúng của một chỉ tiêu liên quan đến BCTC được ước tính trong trường hợp thực tế chưa phát sinh nhưng đã được ước tính để lập BCTC. Ví dụ: chi phí trích trước, dự phòng phải trả (bảo hành, tiền lương nghỉ phép,…) 2.3 Bản chất của ƣớc tính kế toán Theo chuẩn mực VSA 540: Do tính chất không chắc chắn vốn có của các hoạt động kinh doanh, một số khoản mục trong BCTC chỉ có thể được ước tính. Hơn nữa, các tính chất đặc thù của một tài sản, một khoản nợ phải trả hoặc một thành phần của vốn chủ sở hữu, hoặc cơ sở hay phương pháp đo lường được quy định trong khuôn khổ về lập và trình bày BCTC có thể dẫn đến yêu cầu phải ước tính một khoản mục trong BCTC. Một số ước tính kế toán có tính chắc chắn tương đối thấp, có thể làm phát sinh ít rủi ro có sai sót trọng yếu hơn.
Ví dụ: Ước tính kế toán phát sinh tại các đơn vị có hoạt động kinh doanh không phức tạp; Ước tính kế toán được lập và cập nhật thường xuyên vì liên quan đến các giao dịch có tính chất thường xuyên…Tuy nhiên, một số ước tính kế toán có thể có mức độ không chắc chắn tương đối cao, đặc biệt khi ước tính đó dựa trên các giả định quan trọng. Ví dụ: Ước tính kế toán liên quan đến kết quả của vụ kiện tụng, tranh chấp; Ước tính kế toán về giá trị hợp lý với các công cụ tài chính phái sinh không được giao dịch rộng rãi…. Mức độ không chắc chắn trong ước tính thay đổi tùy theo nội dung của ước tính kế toán, phạm vi sử dụng một phương pháp hoặc mô hình được chấp nhận rộng rãi và tính chủ quan của các giả định được sử dụng để lập ước tính kế toán. Trong một số trường 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hợp, sự không chắc chắn trong ước tính kế toán có thể lớn đến mức không đáp ứng được các tiêu chí ghi nhận theo khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng và không thể lập được ước tính kế toán đó.
Việc ước tính thường liên quan đến các xét đoán dựa trên thông tin sẵn có tại thời điểm lập và trình bày báo cáo tài chính. Đối với nhiều ước tính kế toán, việc xét đoán bao gồm đưa ra giả định về các vấn đề không chắc chắn tại thời điểm ước tính. KTV không có trách nhiệm dự đoán các điều kiện, giao dịch hoặc sự kiện tương lai mà nếu biết được tại thời điểm kiểm toán thì có thể ảnh hưởng đáng kể đến các hành động của Ban Giám đốc hoặc ảnh hưởng đến các giả định được Ban Giám đốc sử dụng. Sự thiên lệch của Ban Giám đốc Khuôn khổ về lập và trình bày BCTC yêu cầu phải khách quan, nghĩa là không thiên lệch.
Tuy nhiên, ước tính kế toán là không chính xác và có thể chịu ảnh hưởng bởi xét đoán của Ban Giám đốc. Xét đoán đó có thể liên quan đến sự thiên lệch cố ý hay vô ý của Ban Giám đốc (ví dụ, do động cơ phải đạt được kết quả mong muốn). Khả năng ước tính kế toán chịu ảnh hưởng bởi sự thiên lệch của Ban Giám đốc sẽ tăng lên nếu ước tính được lập chứa đựng yếu tố chủ quan. Sự thiên lệch vô ý của Ban Giám đốc và khả năng xảy ra sự thiên lệch cố ý tiềm ẩn ngay trong các quyết định mang tính chủ quan thường phải có khi lập ước tính kế toán.
Đối với các cuộc kiểm toán năm tiếp theo, dấu hiệu về sự thiên lệch của Ban Giám đốc được phát hiện trong quá trình kiểm toán các kỳ trước sẽ ảnh hưởng đến việc lập kế hoạch, xác định và đánh giá rủi ro của kiểm toán viên trong kỳ hiện tại. Lưu ý khi kiểm toán các đơn vị trong lĩnh vực công Các đơn vị trong lĩnh vực công có thể nắm giữ một khối lượng lớn tài sản chuyên dụng mà không có nguồn thông tin sẵn có và đáng tin cậy về các tài sản đó cho mục đích đo lường theo giá trị hợp lý hoặc làm cơ sở cho việc xác định giá trị hiện tại hoặc kết hợp cả hai. Thông thường, các tài sản chuyên dụng đó không tạo ra dòng tiền và không có thị trường giao dịch. Vì vậy, việc đo lường theo giá trị hợp lý thường yêu cầu phải ước tính và có thể phức tạp, và trong một số ít trường hợp có thể không ước tính được.
Sự khác biệt giữa kết quả thực tế của một ước tính kế toán và số liệu đã ghi nhận hoặc thuyết minh ban đầu trong báo cáo tài chính không nhất thiết bị coi là sai sót trong 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Điều này đặc biệt đúng đối với các ước tính kế toán về giá trị hợp lý, vì kết quả thực tế có thể kiểm chứng được luôn chịu ảnh hưởng của các sự kiện hoặc điều kiện xảy ra sau ngày thực hiện ước tính kế toán cho mục đích lập và trình bày BCTC.4 Tầm quan trọng của các khoản ƣớc tính kế toán Trên thực tế tồn tại một quan điểm cho rằng việc cho phép sử dụng các xét đoán chủ quan khi lập báo cáo sẽ làm giảm độ tin cậy của thông tin tài chính vì có khả năng người lập BCTC sẽ tìm cách che giấu những thông tin quan trọng mà ảnh hưởng đến quyền lợi của người lập. Rõ ràng việc sử dụng các ước tính kế toán để phản ánh sai lệch các thông tin tài chính là có thực, tuy nhiên, các ước tính kế toán vẫn thể hiện được tầm quan trọng của nó, bởi vì việc loại bỏ hoàn toàn các ước tính chủ quan là không khả thi và thiếu hiệu quả kinh tế. Giả sử nếu các doanh nghiệp không được phép xác định tỷ lệ trích khấu hao của mình, khi đó chế độ kế toán đòi hỏi phải thật chi tiết, liệt kê tất cả các tình huống có thể và xác định tỷ lệ khấu hao tương ứng để các doanh nghiệp theo đó mà áp dụng, tương tự việc xây dựng cho toàn bộ tất cả các ước tính kế toán sẽ càng làm cồng kềnh thêm bộ máy pháp luật.
Tuy nhiên do hoạt động kinh doanh vô cùng đa dạng, luôn thay đổi, cho nên việc thực hiện như trên sẽ gặp khó khăn trong việc áp dụng. Các doanh nghiệp phải luôn đối chiếu chi tiết từng trường hợp với quy định, các đơn vị quản lý phải tốn nhiều công sức trong việc kiểm tra, chưa kể đến tính dự báo trong hệ thống luật pháp của ta còn ở mức khiêm tốn. Vì vậy, việc sử dụng các ước tính kế toán với tính hợp lý tương đối sẽ giúp đạt mục tiêu hiệu quả kinh tế, so sánh với chi phí bỏ ra. Một chế độ kế toán “cứng” (không cho phép sử dụng các xét đoán chủ quan khi lập BCTC) còn ảnh hưởng tiêu cực đến các chính sách sản xuất, đầu tư, tài chính của doanh nghiệp.
Ví dụ, nếu yêu cầu các doanh nghiệp phải ghi nhận chi phí nghiên cứu phát triển ngay tại thời điểm phát sinh, mà không có trích trước sẽ làm gia tăng đột biến chi phí trong kỳ, ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả kinh doanh. Mặt khác, đặc tính của kinh doanh là luôn tiềm ẩn yếu tố bất định, vì vậy sự linh hoạt của người quản lý doanh nghiệp là rất quan trọng để đối phó với các tình huống phát sinh. Một chế độ kế toán cứng nhắc sẽ làm hạn chế đi sự linh hoạt này. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.