Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH 1. Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh 1. Một số vấn đề cơ bản về doanh nghiệp ngoài quốc doanh 1. Khái niệm, phân loại doanh nghiệp ngoài quốc doanh a.
Khái niệm doanh nghiệp ngoài quốc doanh Khái niệm Doanh nghiệp được nêu tại khoản 7 Điều 4 Luật Doanh nghiệp, 2014 [9] như sau: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh.” Doanh nghiệp ngoài quốc doanh bao gồm các doanh nghiệp ngoài kinh tế nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thành lập theo luật doanh nghiệp số 68/2014/QH13 [9], cụ thể: “Doanh nghiệp ngoài quốc doanh là những doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, cá nhân không chịu sự chi phối của Nhà nước, được phép kinh doanh trong những ngành và lĩnh vực mà pháp luật cho phép, tự chịu trách nhiệm với mọi kết quả kinh doanh của mình. Đặc điểm nổi bật của loại hình doanh nghiệp này là tính chất tư hữu, các doanh nghiệp thuộc sở hữu của cá nhân hoặc tổ chức có vốn và tài sản đầu tư cho doanh nghiệp, có quyền quản lý điều hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.” Doanh nghiệp ngoài quốc doanh là hình thức doanh nghiệp không thuộc sở hữu nhà nước, trừ khối hợp tác xã; toàn bộ vốn, tài sản, lợi nhuận đều thuộc sở hữu tư nhân hay tập thể người lao động, chủ lao động doanh nghiệp hay chủ cơ sở sản xuất kinh doanh chịu trách nhiệm toàn bộ về hoạt động sản xuất kinh doanh và toàn quyền quyết định phương thức phân phối lợi nhuận sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế mà không chịu sự chi phối nào từ các quyết định của Nhà nước hay cơ quan quản lý [7]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Phân loại doanh nghiệp ngoài quốc doanh Dựa theo các tiêu thức khác nhau, có nhiều cách phân loại doanh nghiệp ngoài quốc doanh như: Phân loại theo ngành nghề kinh doanh, hình thức pháp lý, quy mô của doanh nghiệp… Theo ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp: Trong nền kinh tế, có thể phân thành 6 loại hình doanh nghiệp cơ bản: Doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp - thủy sản, thương mại - dịch vụ, giao thông vận tải, xây dựng và các doanh nghiệp khác (như tài chính, bảo hiểm…) [7].
Theo hình thức pháp lý của doanh nghiệp: Theo Luật doanh nghiệp Việt Nam được Quốc hội thông qua năm 2014 [9], xét về hình thức pháp lý có các loại hình doanh nghiệp ngoài quốc doanh chủ yếu sau: “Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần, Công ty hợp danh, Doanh nghiệp tư nhân”. - Doanh nghiệp tư nhân là: doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân. Doanh nghiệp tư nhân có chế độ trách nhiệm pháp lý vô hạn.
- Công ty hợp danh là doanh nghiệp trong đó có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu của công ty, cùng kinh doanh dưới một cái tên chung (gọi là thành viên hợp danh). Thành viên hợp doanh phải là cá nhân và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty. Ngoài ra trong công ty hợp danh còn có các thành viên góp vốn. - Công ty trách nhiệm hữu hạn (bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên) là doanh nghiệp mà các thành viên trong công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty.
Chủ sở hữu công ty do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Không được phát hành cổ phần để huy động vốn trong kinh doanh. Chuyển nhượng vốn góp được thực hiện theo quy định của pháp luật. - Công ty cổ phần là một dạng pháp nhân có trách nhiệm hữu hạn, được thành lập và tồn tại độc lập đối với những chủ thể sở hữu nó.
Vốn của công ty được chia nhỏ thành những phần bằng nhau gọi là cổ phần, Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là 03 và không hạn chế số lượng tối đa, cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp và được phát hành huy động vốn tham gia của các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế. Căn cứ vào chế độ trách nhiệm: Theo Luật Doanh nghiệp, 2014 [9] nếu căn cứ vào chế độ trách nhiệm của doanh nghiệp sẽ chia thành 2 loại, bao gồm: - Doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm vô hạn là loại hình doanh nghiệp mà ở đó chủ sở hữu doanh nghiệp có nghĩa vụ phải trả nợ thay cho doanh nghiệp bằng tất cả tài sản của mình, khi doanh nghiệp không đủ tài sản để thực hiện các nghĩa vụ tài chính của nó. Theo pháp luật Việt Nam, có hai loại doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm vô hạn là doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh. - Doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm hữu hạn: Theo pháp luật Việt Nam, các doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm hữu hạn cụ thể gồm: công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài không tiến hành đăng ký lại theo Nghị định 101/2006/NĐ-CP.
Những doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm hữu hạn là những doanh nghiệp mà ở đó chủ sở hữu chỉ phải chịu trách nhiệm về mọi khoản nợ và nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp. Điều đó có nghĩa là khi số tài sản của doanh nghiệp không đủ để trả nợ thì chủ sở hữu không có nghĩa vụ phải trả nợ thay cho doanh nghiệp. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Chế độ trách nhiệm hữu hạn của các loại doanh nghiệp trên thực chất là chế độ trách nhiệm hữu hạn của các nhà đầu tư - thành viên/chủ sở hữu công ty. Theo quy mô kinh doanh của doanh nghiệp Theo Nghị định số 39/NĐ-CP chi tiết một số điều của Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa [4], trong đó có có tiêu chí xác định cụ thế: - Doanh nghiệp quy mô siêu nhỏ: bình quân năm không quá 10 lao động và tổng doanh thu của năm không quá 10 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 3 tỷ đồng.
- Doanh nghiệp quy mô nhỏ: bình quân năm không quá 50 lao động và tổng doanh thu của năm không quá 100 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 50 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định. - Doanh nghiệp quy mô vừa: bình quân năm không quá 200 lao động và tổng doanh thu của năm không quá 300 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng, nhưng không phải là doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định. Vai trò của doanh nghiệp quốc doanh trong nền kinh tế Thực hiện đường lối đổi mới, kinh tế khu vực ngoài quốc doanh nói chung, nhất là khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã phát triển vượt bậc. Thực tiễn đã khẳng định những đóng góp của khu vực này trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Theo Trần Tiến Cường (2010) DNNQD có những vai trò sau: - Là nhân tố chủ yếu thúc đẩy cạnh tranh của nền kinh tế. Trong nền KT kế hoạch hóa tập trung, nhà nước không công nhận thị trường, giá cả, cũng không chấp nhận cạnh tranh, do đó không có yêu cầu nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của sản phẩm. Cùng với sự gia tăng về số lượng và các ngành nghề kinh doanh phong phú đa dạng của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh như: thương nghiệp, dịch vụ, sản xuất… đã đem lại số thu cho ngân sách nhà nước hàng năm ngày càng chiếm tỷ trọng lớn. Sự phát triển của khu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã mở mang ra nhiều ngành nghề, thúc đẩy lưu thông hàng hóa.
Đã xuất hiện nhiều cơ sở sản xuất, kinh doanh hoạt động hiệu quả, tạo được chỗ đứng trên thị trường. Sản phẩm ngày càng đa dạng, phong phú, được người tiêu dùng trong nước và ngoài nước ưa chuộng. Một số DN đã tạo thêm mặt hàng mới, thị trường mới, sản phẩm đã có sức cạnh tranh. - Là khu vực góp phần ngày càng quan trọng vào sự tăng trưởng của tổng sản phẩm quốc nội - GDP.
- Là lực lượng chủ yếu thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu của nền KT từ nông nghiệp lạc hậu sang nền KT phát triển đa dạng cả nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, thúc đẩy CNH-HĐH, theo yêu cầu của thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế. - Là nơi đảm bảo đại đa số chỗ làm việc cho người lao động, là lực lượng to lớn nhất trong các hoạt động xã hội, từ thiện, xóa đói giảm nghèo, giảm bớt chênh lệch giàu nghèo trong xã hội. - Cũng chính khu vực dân doanh là nơi đang hình thành một lớp người mới, một tầng lớp xã hội mới, đó là doanh nhân. Đó chính là những người lính xung kích xung kích thời bình được xã hội công nhận.
Họ có đủ dũng cảm đưa tài sản, vốn liếng ra kinh doanh trong một môi trường chưa đủ thông thoáng, còn nhiều rủi ro; khá nhiều người trong họ đang trở thành nhà quản lý tài năng, nắm được tri thức hiện đại về quản lý và công nghệ để đảm bảo và không ngừng nâng cao sức cạnh tranh của từng sản phẩm hàng hóa cũng như hiệu quả kinh doanh của từng doanh nghiệp dân doanh trong sóng gió của kinh tế thị trường. - Trên phương diện đóng góp cho Ngân sách Nhà nước, số thu thuế từ doanh nghiệp ngoài quốc doanh ngày càng chiếm tỷ trọng lớn so với tổng thu của Ngân sách Nhà nước. Trong tổng số thu từ thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh, thuế thu nhập doanh nghiệp ngày càng chiếm vị trí quan trọng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.